CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI CASELAW VIỆT NAM

Thông tin về Vị trí nhà, đất có tranh chấp tại https://caselaw.vn/tra-cuu-tranh-chap-bat-dong-san được cung cấp bởi Caselaw Việt Nam được thu thập từ nguồn nội dung của các bản án mà Caselaw Việt nam cho rằng là đáng tin cậy và dựa trên cơ sở “thực tế và sẵn có”.

Các vị trí nhà, đất có tranh chấp có thể là: 1) Vị trí nhà, đất thuộc diện thi hành án; hoặc 2) Vị trí nhà, đất bị thế chấp và có khả năng bị ngân hàng phát mại; hoặc 3) Lược sử vị trí nhà, đất đã bị tranh chấp và có thể kéo dài tới hiện tại.

Mục đích duy nhất của các thông tin này là nhằm hạn chế rủi ro pháp lý trong các giao dịch bất động sản liên quan đến các vị trí nhà, đất được chỉ ra ở dưới đây. Mặc dù đã cố gắng hết sức, Caselaw Việt Nam không đảm bảo rằng các thông tin được cung cấp là chính xác hoàn toàn, trọn vẹn và có thể giúp Quý khách hàng loại bỏ các rủi ro pháp lý tuyệt đối.

Bất kỳ hình thức sử dụng thông tin nào cần được cân nhắc kỹ lưỡng, có sự tư vấn của luật sư và tuân thủ quy định pháp luật.

Chân thành cảm ơn!



Vị trí mới cập nhật

Nội dung tranh chấp tại: 120m2 đất tại 136 Nguyễn Thái Học, phường Điện Biên, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội


Nguồn thông tin: Bản án/Quyết định số 47/2013/DS-GĐTngày 24/05/2013 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao

Nội dung tóm lược:

Nguyên đơn:

1. Ông Vũ Đức Hanh sinh năm 1942;

2. Bà Vũ Thị Tỵ sinh năm 1953;

Ông Hanh, bà Tỵ trú tại 136 Nguyễn Thái Học, phường Điện Biên, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

3. Bà Vũ Thị Mùi sinh năm 1937;

4. Ông Vũ Đức Tuấn sinh năm 1952;

Bà Mùi, ông Tuấn trú tại thôn Tống Xuyên, xã Thái Hưng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

Bà Mùi, ông Tuấn và bà Tỵ ủy quyền cho ông Hanh theo giấy ủy quyền ngày 31-7-2007.

Bị đơn: Bà Vũ Thị Thế sinh năm 1958; trú tại 136 Nguyễn Thái Học, phường Điện Biên, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Bà Thế ủy quyền cho ông Nguyễn Đình Tiến sinh năm 1955; trú tại: 91 Hàng Buồm, phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội theo giấy ủy quyền ngày 28-8-2007 và ngày 03-2-2009.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Phạm Thị Bích Thủy sinh năm 1980 (là con của bà Thế);

2. Chị Phạm Thị Thu Huyền sinh năm 1984 (là con của bà Thế);

Chị Thủy và chị Huyền trú tại OKRUZNA 3415/7-921001 Pier Tăny SLOVAKIA. Ngày 11-3-2008, chị Thủy, chị Huyền có đơn xin vắng mặt tại Tòa án.

NHẬN THẤY:

Tại đơn khởi kiện ngày 27-3-2007 và trong quá trình tố tụng, các nguyên đơn là ông Vũ Đức Hanh, bà Vũ Thị Tỵ, bà Vũ Thị Mùi và ông Vũ Đức Tuấn (do ông Vũ Đức Hanh đại diện) trình bày:

Cố Trần Thị Chính (chết ngày 30-11-1959), có chồng là cố Tống Xuân Dục (chết năm 1930), có 1 người con chung là cụ Tống Thị Dung (chết năm 1970). Cụ Dung có chồng là cụ Vũ Đức Côn (chết năm 1976), có 6 người con chung là bà Vũ Thị Mùi, ông Vũ Đức Hanh, bà Vũ Thị Dậu (chết năm 1963, chưa có chồng, con), ông Vũ Đức Phong (chết năm 1971 chưa có vợ, con), ông Vũ Đức Tuấn và bà Vũ Thị Tỵ .

Năm 1930, cố Dục chết thì năm 1935 cố Chính kết hôn với cố Đỗ Đức Thuận, giữa cố Chính và cố Thuận không có con chung. Cố Chính và cố Thuận chung sống đến năm 1948 thì chấm dứt quan hệ hôn nhân.

Toàn bộ những người đã chết không để lại di chúc.

Tài sản của cố Chính là 3 gian nhà cấp 4, bếp trên 120m2 đất tại 136 Nguyễn Thái Học, phường Điện Biên, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Năm 1954, cố Chính đi Miền Nam, cụ Dung quản lý, sử dụng nhà, đất tại 136 Nguyễn Thái Học. Tháng 4-1955, gia đình ông về quê Thái Bình ở đến tháng 12-1956 trở lại thì thấy hộ cụ Hoàng Gia Can, hộ cụ Hoàng Thị Tý (tức Lương), hộ cụ Nguyễn Thị Mùi đang cư trú tại nhà, đất trên, nên cụ Dung khiếu nại thì Phòng nhà cửa trả lời là khi gia đình đi vắng có cho các hộ ở tạm 3 tháng và có đưa cho xem giấy ký nhận thuê nhà đất vắng chủ đối với cụ Hoàng Gia Can thời gian từ ngày 20-7-1956 đến hết ngày 31-12-1956. Ngày 31-12-1956, cụ Dung được Ủy ban hành chính thành phố Hà Nội cấp giấy chứng nhận quản lý nhà, đất vắng chủ. Sau khi được cấp giấy quản lý nhà vắng chủ cụ Dung thỏa thuận với những người đang ở trong nhà này là cho cụ Tý và ông Nguyễn Văn Thịnh (là con của cụ Tý) thuê 1/2 gian nhà (diện tích là 8m2); cụ Nguyễn Thị Mùi và ông Nguyễn Văn Mẫn (là con của cụ Mùi) thuê 1/2 gian, gia đình cụ Hoàng Gia Can và ông Hoàng Gia Hòa (là con của cụ Can) thuê 1 gian, còn 1 gian gia đình cụ Dung ở. Việc thuê nhà chỉ thỏa thuận bằng miệng, giá thuê nhà là 1 đồng/tháng, hàng tháng các hộ nêu trên đều trả tiền thuê nhà cho cụ Dung.

Năm 1976 cụ Tý chết, ông Thịnh và bà Khánh (là vợ của ông Thịnh) tiếp tục ở. Năm 1985, vợ chồng ông Thịnh chuyển đi nơi khác ở (ông Thịnh chết năm 1998, bà Khánh sống cùng các con ở nước ngoài). Khi chuyển đi ông Thịnh yêu cầu gia đình ông phải bồi thường nhưng do không có tiền nên ông Thịnh để cho vợ chồng bà Vũ Thị Thế, ông Phạm Văn Xây (chết năm 1978) và 2 con của ông, bà và chị Phạm Thị Bích Thủy và chị Phạm Thị Thu Huyền ở. Hiện chị Thủy, chị Huyền đang ở nước ngoài.

Theo Nghị quyết 58-UBTVQH, các nguyên đơn đã làm thông báo đòi nhà đối với bà Khánh, bà Thế ngày 21-4-2000 tại Sở Địa chính, ngày 2-8-2000 tại Ủy ban nhân dân phường Điện Biên và ngày 26-11-2006 nhưng bà Thế không trả nhà. Các nguyên đơn yêu cầu bà Thế trả lại nhà mà trước đây cụ Tý, ông Thịnh đã thuê của gia đình các ông, bà.

Bị đơn là bà Vũ Thị Thế do ông Nguyễn Đình Tiến đại diện trình bày:

Năm 1955, cụ Hoàng Thị Tý được chính quyền đồng ý cho ở một gian 15m2 tại 136 Nguyễn Thái Học, phường Điện Biên, quận Ba Đình, Hà Nội cùng với hai hộ là cụ Hoàng Gia Can và cụ Nguyễn Thị Mùi.

Năm 1976 cụ Tý chết, cụ Tý có 4 người con là ông Nguyễn Văn Lương (chết năm 2006), ông Nguyễn Văn Thịnh (chết 1998), bà Nguỵễn Thị Lượng (hiện ở Lạng Sơn) và bà Nguyễn Thị Vượng (hiện ở quận Đông Đa, thành phố Hà Nội) tiếp tục quản lý, sử dụng. Năm 1965, cụ Tý nhận bà Thế làm con nuôi, bà Thế về ở tại 136 Nguyễn Thái Học cùng cụ Tý từ năm 1976. Sau đó các người con của cụ Tý đi xây dựng gia đình và chuyển đi nơi khác ở chỉ còn lại cụ Tý, bà và gia đình ông Thịnh quản lý phần nhà đất tại 136 Nguyễn Thái Học. Năm 1998, gia đình ông Thịnh chuyển đi nơi khác ở chỉ còn lại bà và hai con của bà là chị Phạm Thị Bích Thủy và chị Phạm Thị Thu Huyền ở lại. Năm 2003, bà Thế kết hôn với ông Vũ Đình Tiến nhưng ông Tiến không ở đây mà ở tại Hàng Buồm, hiện chị Thủy và chị Huyền đang sinh sống ở nước ngoài nên chỉ còn lại bà Thế quản lý nhà, đất nêu trên.

Trong quá trình ở, bà Thế có sửa chữa lại nhà như tôn, lát nền đá hoa, làm lại mái nhà, khu vệ sinh và xây thêm khoảng 5m2 mái bằng phía trước nhà. Khi sửa chữa chị Thủy và chị Huyền còn nhỏ không đóng góp gì. Bà Thế cho rằng nhà này là nhà vắng chủ, chính quyền đã bố trí cho các hộ vào ở nên bà không đồng ý trả nhà cho các nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Phạm Thị Bích Thủy và chị Phạm Thị Thu Huyền trình bày:

Các chị nhất trí với trình bày và yêu cầu của bà Thế; đồng thời xác nhận khi bà Thế sửa chữa nhà 136 Nguyễn Thái Học các chị không có đóng góp nên không có yêu cầu.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 39/2008/DSST ngày 30-5-2008, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:

1. Xác nhận cố Trần Thị Chính là chủ sở hữu ngôi nhà 136 Nguyễn Thái Học, phường Điện Biên, quận Ba Đình, Hà Nội.

- Xác nhận bà Vũ Thị Mùi, ông Vũ Đức Hanh, ông Vũ Đức Tuấn, bà Vũ Thị Tỵ là con đẻ của cụ Tống Thị Dung, đồng thời là cháu ngoại của cố Trần Thị Chính được hưởng thừa kế ngôi nhà 136 Nguyễn Thái Học.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi nhà cho thuê của bà Vũ Thị Mùi, ông Vũ Đức Hanh, ông Vũ Đức Tuấn, bà Vũ Thị Tỵ do ông Hanh đại diện đổi với bà Vũ Thị Thế.

3. Buộc bà Thế và những người có tên trong sổ hộ khẩu hoặc không có tên trong sổ hộ khẩu thường xuyên sinh sống ở diện tích thuê 17,1m2 nhà đất tại 136 Nguyễn Thái Học, phường Điện Biên, quận Ba Đình, Hà Nội phải trả toàn bộ diện tích nhà đất đang chiếm hữu, sử dụng do ở thuê (bao gồm phần nhà nguyên thủy và phần cơi nới làm thêm, phần gác xép) cho các nguyên đơn do ông Vũ Đức Hanh làm đại diện.

4. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Vũ Đức Hanh thanh toán toàn bộ giá trị nhà còn lại và phần sửa chữa, làm thêm cho bà Vũ Thị Thế là 19.037.000 đ.

Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, nghĩa vụ do chậm thi hành án và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 05-6-2008, bà Vũ Thị Thế, chị Phạm Thị Bích Thủy và chị Phạm Thị Thu Huyền kháng cáo cho rằng nhà 136 Nguyễn Thái Học, phường Điện Biên, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội làm trên đất công của thành phố; gia đình cụ Tý cùng các hộ khác được chính quyền thời kỳ đó bố trí vào ở nhà đất vắng chủ từ năm 1954, đã ở liên tục 53 năm; cụ Chính và cụ Dung không phải là mẹ con, ông Hanh không phải là con cụ Dung.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 62/2009/DSPT ngày 13-4-2009, Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội quyết định: Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi xét xử phúc thẩm ngày 02-7-2009, bà Vũ Thị Thế có đơn khiếu nại bản án phúc thẩm nêu trên.

Tại Quyết định số 123/2012/KN-DS ngày 13 tháng 4 năm 2012, Chánh án Toà án nhân dân tối cao kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 62/2009/DSPT ngày 13-4-2009 của Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên; giao hồ sơ vụ án cho Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm lại theo đúng qui định của pháp luật.

Tại phiên toà giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao không chấp nhận kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, đề nghị giữ nguyên bản án phúc thẩm số 62/2009/DSPT ngày 13-4-2009 của Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội với lý do: Nhà 136 Nguyễn Thái Học do cố Chính xây dựng trên 120m2 đất công. Năm 1954 cố Chính đi Miền Nam. Năm 1956 Nhà nước đã giao cho cụ Dung (là con của cố Chính) quản lý, sử dụng. Năm 1973, ông Thịnh (là con của cụ Tý) đã có văn bản thừa nhận nhà thuê của nguyên đơn. Nguyên đơn là người thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế nhà đất cho Nhà nước. Do đó, nhà thuộc quyên sở hữu của các nguyên đơn nên các nguyên đơn kiện đòi lại nhà là có căn cứ. Không có văn bản nào xác định Nhà nước quản lý nhà nêu trên.