CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI CASELAW VIỆT NAM

Thông tin về Vị trí nhà, đất có tranh chấp tại https://caselaw.vn/tra-cuu-tranh-chap-bat-dong-san được cung cấp bởi Caselaw Việt Nam được thu thập từ nguồn nội dung của các bản án mà Caselaw Việt nam cho rằng là đáng tin cậy và dựa trên cơ sở “thực tế và sẵn có”.

Các vị trí nhà, đất có tranh chấp có thể là: 1) Vị trí nhà, đất thuộc diện thi hành án; hoặc 2) Vị trí nhà, đất bị thế chấp và có khả năng bị ngân hàng phát mại; hoặc 3) Lược sử vị trí nhà, đất đã bị tranh chấp và có thể kéo dài tới hiện tại.

Mục đích duy nhất của các thông tin này là nhằm hạn chế rủi ro pháp lý trong các giao dịch bất động sản liên quan đến các vị trí nhà, đất được chỉ ra ở dưới đây. Mặc dù đã cố gắng hết sức, Caselaw Việt Nam không đảm bảo rằng các thông tin được cung cấp là chính xác hoàn toàn, trọn vẹn và có thể giúp Quý khách hàng loại bỏ các rủi ro pháp lý tuyệt đối.

Bất kỳ hình thức sử dụng thông tin nào cần được cân nhắc kỹ lưỡng, có sự tư vấn của luật sư và tuân thủ quy định pháp luật.

Chân thành cảm ơn!



Vị trí mới cập nhật

Nội dung tranh chấp tại: Nhà đất tại số 16, B20 phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội


Nguồn thông tin: Bản án/Quyết định số17/2015/DS -GĐTngày 19/5/2015 của Toà Dân sự Toà án nhân dân tối cao

Nội dung tóm lược:

Nguyên đơn:

Nguyễn Thị Tuệ, sinh năm 1957; địa chỉ: Hyogo-ken, Kobeshi, Nagata-ku- Sugaharadori 2-119-1-701 Nhật Bản; ủy quyền cho bà Ngô Thị Thủy, sinh năm 1957 đại diện.

Bà Tuệ và bà Thủy đều trú tại số 5, dãy B12, tổ 56, phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

Bị đơn:

Nguyễn Văn Hinh, sinh năm 1948; trú tại số 16-B20, phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội,

Nguyễn Thị Vân, sinh năm 1957; trú tại B3, khu tập thể AI4 Bộ công an, tổ 4, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Lê Thị Lũng, sinh năm 1948; trú tại số 16-B20, phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

Nguyễn Hồng Phương, sinh năm 1972; trú tại tổ 39, phường Nguyễn Phúc, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

Nguyễn Thị Cẩm Vân, sinh năm 1980.

Nguyễn Hồng Hạnh, sinh năm 1982.

Chị Vân và chị Hạnh cùng trú tại số 16-B20, phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

Ông Bình, anh Phương, chị Vân, chị Hạnh cùng ủy quyền cho chị Nguyễn Thị Hồng Vinh, sinh năm 1977, trú tại 48 phố Hoàng Ngọc Phách, phường Lang Hạ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội đại diện.

Nguyễn Xuân Hải, sinh năm 1974 và vợ là Nguyễn Thị Hằng Hải, sinh năm 1982 và hai con là Nguyễn Thu Hằng, sinh năm 2005, Nguyễn Quang Khôi, sinh năm 2008; cùng trú tại số 16-B20, phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

NHẬN THẤY:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/11/2010 và trong quá trình tố tụng, bà Nguyễn Thị Tuệ do bà Ngô Thị Thủy đại diện theo ủy quyền trình bày:

Bà Tuệ sống ở Nhật Bản từ năm 1977 nhưng vẫn thường xuyên về thăm gia đình. Năm 1992, bà Tuệ có nguyện vọng mua nhà tại Việt Nam, tuy nhiên do pháp luật Việt Nam không cho phép nên bà Tuệ đã nhờ ông Nguyễn Văn Bình. (là chú ruột của bà, sống tại Yên Bái) mua giúp. Cuối năm 1992, ông Bình đã tìm và mua được nhà đất tại số 16, B20 phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội (sau đây gọi tắt là nhà 16-B20) là nhà 02 tầng trên diện tích 68,5m2 đất của Công ty xây dựng dân dụng Hà Nội với giá 320 chỉ vàng. Do nhà mua không có điện nước, nên phải ký thêm hợp đồng dịch vụ để thuê làm điện nước hết 36 chỉ vàng, tổng cộng mua nhà hết 356 chỉ vàng, nhưng ông Bình nói là mua nhà hết 360 chỉ vàng và bà Tuệ đã đưa đủ vàng cho ông Bình. Tiền mua nhà là của bà Tuệ, khi bà Tuệ giao tiền ông Bình không viết giấy biên nhận.

Thời điểm ông Bình mua nhà đất trên, ông Bình cũng không có hộ khẩu Hà Nội, nên ông Bình đã nhờ bà Nguyễn Thị Vân (là em họ của vợ ông Bình) có hộ khẩu tại Hà Nội cùng đứng tên trong Hợp đồng mua nhà. Vì vậy, tại Hợp đồng mua nhà ngày 11/12/1992 đã ghi bên mua là ông Bình và bà Vân, với giá 320 chỉ vàng được quy thành tiền tại thời điểm thanh toán. Ngày 13/7/1993, Công ty xây dựng dân dụng nhà Hà Nội đã lập biên bản bàn giao nhà cho bên mua. Nhưng về Việt Nam, bà Tuệ tạm ở tại nhà đất này và có khai báo tạm trú với Công an. Để phục vụ cho cuộc sống, bà Tuệ đã mua một số tài sản như điều hòa nhiệt độ, giường tủ, bàn ghế cùng nhiều vật dụng phục vụ cho cuộc sống hàng ngày. Do công việc nên bà Tuệ phải sang Nhật Bản, ông Bình có nói cho ông Bình ở để trông nhà nên bà Tuệ đã đồng ý.

Ngày 25/5/2001, ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở đứng tên ông Bình và bà Vân. Việc kê khai xin cấp giấy nói trên, ông Bình không báo cho bà Tuệ biết. Đến tháng 6/2009, bà Tuệ mới biết ông Bình và bà Vân đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và đất, Lúc bà Tuệ hỏi thì ông Bình thừa nhận đã làm giấy tờ nhà đất và ông Bình đã đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở cho bà Tuệ. Đồng thời, bà Tuệ yêu cầu ông Bình sang tên nhà đất cho bà. Tháng 9/2010, ông Bình đồng ý trả nhà đất nhưng với điều kiện bà Tuệ phảị cắt dọc nhà chịa cho ông Bình 1/2 nhà phía ngoài đường nhưng bà Tuệ không đồng ý. Ông Bình tiếp tục đòi bà Tuệ phải trả 03 đến 04 tỷ đồng hoặc trả cho ông Bình 01 căn nhà khác tại Hà Nội coi như là công ông Bình trông nhà hộ cho bà Tuệ mà thực tế bà Tuệ không nhờ ông Bình trông nhà hộ. Bà Tuệ cũng rất tình nghĩa đã mua nhà ở Yên Bái, đất và nhà ở Phú Thọ cho ông Bình. Việc mua nhà này ông Bình cũng thừa nhận.

Quá trình ở tại nhà đất nêu trên, ông Bình có cơi nới 02 phòng nhỏ phía trên để cho sinh viên thuê, việc này bà Tuệ không biết. Bà Tuệ yêu cầu ông Bình trả nhà đất nhưng ông Bình không trả. Do đó, bà Tuệ khởi kiện yêu cầu ông Bình và bà Vân phải trả căn nhà số 16-B20 cho bà.

Bị đơn là ông Nguyễn Văn Bình do chị Nguyễn Thị Hồng Vinh đại diện theo ủy quyền trình bày:

Lời khai của bà Tuệ là không đúng. Do ông Bình không có hộ khẩu tại Hà Nội nên ông Bình đã nhờ bà Vân cùng đứng tên trong Hợp đồng mua căn nhà số 16“B20. Ngày 11/12/1992, ông Bình và bà Vân ký “Hợp đồng mua nhà” và làm “Hợp đồng dịch vụ” với Công ty xây dựng dân dụng Hà Nội với giá là 320 chỉ vàng cộng với tiền điện nước là 36 chỉ vàng, tổng cộng là 356 chỉ vàng.

Toàn bộ tiền mua nhà này.do vợ chồng ông Bình bỏ tiền ra mua từ tiền tích góp và vay mượn. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm ngày 05/10/2012 thì ông Bình lại khai tiền mua nhà hết 360 chỉ vàng do bà Tuệ cho ông số tiền này.

Ngày 13/7/1993, Công ty xây dựng dân dụng Hà Nội có biên bản bàn giao nhà cho ông Bình và bà Vân, Ngày 28/10/1994, bà Vân làm “Giấy cam đoan xác định tài sản nhà ở” với nội dung bà Vân chỉ đứng tên mua hộ vợ chồng ông Bình căn nhà số 16-B20 và nhà này thuộc toàn quyền sử dụng của vợ chồng ông Bình. Ngày 25/5/2001, ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở cho ông Bình và bà Vân. Giấy tờ nhà và Hợp đồng mua bán nhà, Biên bản bàn giao nhà và Tờ khai lệ phí trước bạ hiện bà Tuệ đang giữ.

Quá trình sử dụng nhà đất, vợ chồng ông Bình có tu sửa, xây tường rào bảo vệ, xây thêm 02 phòng (phần đất lấn chiếm thêm). Hiện nhà, đất tranh chấp vợ chồng ông Bình cùng 03 người con và 02 người cháu sinh sống. Trước đây nhà cho thuê nhưng hiện không cho thuê nữa.

Về “Giấy cam đoan xác định tài sản nhà ở” ngày 07/6/2001 và “Giấy khai nhận tài sản” ngày 09/8/2001: ông Bình khẳng định các chữ ký trong 02 giấy tờ này không phải của ông. Nhưng tại phiên tòa phúc thẩm ngày 10 và 11/7/2013, ông Bình lại thừa nhận “Giấy cam đoan xác định tài sản nhà ở” là do ông viết.

Ông Bình thừa nhận bà Tuệ có mua nhà ở Yên Bái và ở Phú Thọ cho ông. Ông không đồng ý với yêu cầu của bà Tuệ, đề nghị Tòa án giải quyết bảo vệ quyền lợi cho ông.

Đồng bị đơn là bà Nguyễn Thị Vân trình bày:

Bà có ký vào Hợp đồng mua căn nhà số 16, B20 phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Bà Vân thừa nhận có ký vào “Giấy cam đoan xác định tài sản nhà ở” ngày 07/6/2001 và “Giấy khai nhận tài sản” ngày 09/8/2001 vì ông Bình và bà Tuệ nhờ bà ký. Nội dung 02 giấy tờ trên bà không biết. “Giấy cam đoan xác định tài sản nhà ở” ngày 28/10/1994 do ông Bình và bà Tuệ nhờ bà viết. Bà chỉ đứng tên hộ trong hợp đồng mua bán nhà, không liên quan đến vụ án này. Đề nghị được vắng mặt tại Tỏa án.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Lê Thị Lũng, anh Nguyễn Hồng Phưong, chị Nguyễn Thị Cẩm Vân, chị Nguyễn Hồng Hạnh là vợ và các con ông Bình có lời trình bày thống nhất với lời trình bày của ông Bình.

Anh Nguyễn Xuân Hải trình.bày: Anh là con của ông Bình và bà Lũng. Căn nhà số 16-B20 là bà Tuệ bỏ tiền ra mua và nhờ bố mẹ anh trông coi hộ nhà. Bà Tuệ đã cho ông Bình tiền mua nhà ở Yên Bái và ở Phú Thọ.

Chị Nguyễn Thị Hằng Hải trình bày: Chị là vợ của anh Nguyễn Xuân Hải. Từ khi chị về làm dâu, bố mẹ chồng và các em chồng đều nói nhà đất có tranh chấp là của bà Tuệ.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 56/2012/ĐSST ngày 05/10/2012, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tuệ.

Xác định toàn bộ tiền mua “tài sản là nhà đất mang số 16, B20 phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội” là của bà Nguyễn Thị Tuệ.

Xác định “tài sản 55 là nhà đất mang số 16, B20 phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội” được ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ngày 25/5/2001, đứng tên đồng sở hữu là ông Nguyễn Văn Bình và bà Nguyễn Thị Vân. Ông Bình và bà Vân chỉ là những người đứng tên hộ, đại diện thay cho bà Nguyễn Thị Tuệ.

Buộc ông Nguyễn Văn Bình cùng các con, cháu (có tên trong giấy đăng ký tạm trú với Công an phường Nghĩa Tân) hiện đang ở tạm trú tại nhà đất phải trả lại tài sản là toàn bộ diện tích nhà đất tại số B20 phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

Buộc ông Nguyễn Văn Bình, bà Nguyễn Thị Vân phải có trách nhiệm cùng với bà Nguyễn Thị Tuệ, đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý về nhà ở và đất đai của thành phố Hà Nội, để tiến hành các thủ tục đăng ký kê khai về quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.

Bà Nguyễn Thị Tuệ phải có trách nhiệm thanh toán trả cho ông Nguyễn Văn Bình số tiền 68.847.098đ là tiền sửa chữa nhà, giá trị nhà tạm và tiền thuế nhà đất hàng năm do ông Bình đã bỏ tiền chi phí đầu tư vào nhà đất của bà Tuệ.

Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 09/10/2012, bà Nguyễn Thị Hồng Vinh là đại diện theo ủy quyền của ông Bình, bà Lũng, anh Phương, chị Cẩm Vân, chị Hạnh có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 125/2013/DSPT ngày 10 và 11/7/2013 Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã quyết định sửa Bản án dân sự sơ thẩm, như sau:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tuệ về việc “kiện đòi tài sản” là nhà đất tại số 16, B20, phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội đối với ông Nguyễn Văn Bình và bà Nguyễn Thị Vân.

Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm, bà Nguyễn Thị Tuệ có đơn đề nghị giám đốc thẩm Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.

Tại Kháng nghị số 43/2015/DS-KN ngày 04/3/2015, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 56/2012/DSST ngày 05/10/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với Kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.