CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI CASELAW VIỆT NAM

Thông tin về Vị trí nhà, đất có tranh chấp tại https://caselaw.vn/tra-cuu-tranh-chap-bat-dong-san được cung cấp bởi Caselaw Việt Nam được thu thập từ nguồn nội dung của các bản án mà Caselaw Việt nam cho rằng là đáng tin cậy và dựa trên cơ sở “thực tế và sẵn có”.

Các vị trí nhà, đất có tranh chấp có thể là: 1) Vị trí nhà, đất thuộc diện thi hành án; hoặc 2) Vị trí nhà, đất bị thế chấp và có khả năng bị ngân hàng phát mại; hoặc 3) Lược sử vị trí nhà, đất đã bị tranh chấp và có thể kéo dài tới hiện tại.

Mục đích duy nhất của các thông tin này là nhằm hạn chế rủi ro pháp lý trong các giao dịch bất động sản liên quan đến các vị trí nhà, đất được chỉ ra ở dưới đây. Mặc dù đã cố gắng hết sức, Caselaw Việt Nam không đảm bảo rằng các thông tin được cung cấp là chính xác hoàn toàn, trọn vẹn và có thể giúp Quý khách hàng loại bỏ các rủi ro pháp lý tuyệt đối.

Bất kỳ hình thức sử dụng thông tin nào cần được cân nhắc kỹ lưỡng, có sự tư vấn của luật sư và tuân thủ quy định pháp luật.

Chân thành cảm ơn!



Vị trí mới cập nhật

Nội dung tranh chấp tại: Diện tích khoảng 4.212 m2 đất tại tổ 2, thôn Vĩnh Điềm Trung, xã Vĩnh Hiệp, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa


Nguồn thông tin: Bản án/Quyết định số: 123/2013/ DS-GĐT  ngày 23/09/2013 của Tòa án nhân dân tối cao

Nội dung tóm lược:

Nguyên đơn: Cụ Lê Mười sinh năm 1936; trú tại tổ 2, thôn Vĩnh Điềm Trung, xã Vĩnh Hiệp, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa;

Ủy quyền cho ông Lê Văn Tình (sinh năm 1953, trú tại nhà số 40/1 Hòa Tây, xã Vĩnh Hòa, thành phố Nha Trạng, tỉnh Khánh Hòa) làm đại diện.

Bị đơn: Ông Lê Văn Lợi sinh năm 1946; trú tại tổ 2, thôn Vĩnh Điềm Trung, xã Vĩnh Hiệp, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa;

Ủy quyền cho anh Lê Trần Anh Thi (sinh năm 1970, trú tại cùng địa chỉ với ông Lợi) làm đại diện.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

1.  Cụ Lê Thị Nữ sinh năm 1930; trú tại nhà số 1G đường Lạc Long Quân, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

2.  Cụ Lê Thị Gió sinh năm 1922 (chết ngày 22/3/2010).

3.  Bà Lê Thị Thái hiện định cư tại Mỹ (địa chỉ: 10719 Sageriver Houston TX 77089-USA).

4.  Bà Lê Thị Chá sinh năm 1945;

5.  Anh Nguyễn Tấn Khải sinh năm 1968;

(bà Chá, anh Khải hiện định cư tại Na Uy; trú tại cùng địa chỉ: 1259 Hosga SVN 330SLV Norway).

6.  Bà Lê Thị Băng Loan sinh năm 1954; trú tại 43/3A Lý Thánh Tôn, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

7.  Bà Lê Thị Bích Chi sinh năm 1958; hiện định cư tại Mỹ (địa chỉ: 13691 Loma St Garden Grove CA - USA); ủy quyền cho anh Huỳnh Du Biên (sinh năm 1979; trú tại nhà số 102 Trương Định, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa) làm đại diện.

8.  Ông Lê Quang Tần sinh năm 1956; trú tại nhà số 100/15/1 Nguyễn Trãi, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

9.  Bà Lê Thị Ánh Nguyệt sinh năm 1961; được thay đổi địa vị tố tụng thành nguyên đơn trong vụ án;

10.  Ông Lê Văn Hùng sinh năm 1951;

(bà Nguyệt, ông Hùng cùng trú tại nhà số 55 hương lộ 45 Ngọc Hiệp, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa).

11.  Bà Nguyễn Thị Minh Trang; trú tại tổ 2, thôn Vĩnh Điềm Trung, xã Vĩnh Hiệp, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

12.  Bà Nguyễn Thị Thanh sinh năm 1942; trú tại tổ 7 Vĩnh Châu, xã Vĩnh Hiệp, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

13.  Ông Nguyễn Tấn Hóa sinh năm 1956; trú tại nhà số 46/1 ấp Lập Thành, xã Xuân Thành, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai; ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Thanh làm đại diện.

14.  Ông Nguyễn Phiêu Linh sinh năm 1947; trú tại nhà số 70 đường số 6, khu phố 2, phường Linh Trung, quận Thủ Đức, thành phô Hồ Chí Minh.

15.  Anh Nguyễn Huy Đạt sinh năm 1970; trú tại nhà số 556/1/2B đường số 6, khu phố 2, phường Linh Trung, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh;

16.  Chị Nguyễn Đạt Thanh Quyên sinh năm 1972;

17.  Anh Nguyễn Khang Huy sinh năm 1969;

(chị Quyên, anh Đạt cùng trú tại nhà số 70 đường số 6, khu phố 2, phường Linh Trung, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh).

18.  Anh Nguyễn Đạt Thanh Tâm sinh năm 1973; trú tại nhà số 15/8C Hai Bà Trưng, phường 6, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

(anh Đạt, chị Quyên, anh Huy, anh Tâm cùng ủy quyền cho ông Nguyễn Phiêu Linh làm đại diện).

19.  Bà Trần Thị Thọ sinh năm 1949; ủy quyền cho anh Lê Trần Anh Thi làm đại diện.

20.  Anh Lê Trần Anh Thi sinh năm 1970;

21.  Chị Trương Lê Kiều Liên sinh năm 1975.

(bà Thọ, anh Thi, chị Liên cùng trú tại tổ 2, thôn Vĩnh Điềm Trung, xã Vĩnh Hiệp, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa)

NHẬN THẤY:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 11/6/2007 và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là cụ Lê Mười (do ông Lê Văn Tình đại diện theo ủy quyền) trình bày:

Cha mẹ đẻ của cụ Lê Mười là cô Lê An, cố Nguyễn Thị Giếng có 7 người con, nhưng có hai người chết trẻ, chưa có gia đình riêng là cụ Lê Bão và cụ Lê Tố, còn lại 5 người gồm: Cụ Lê Hượt, cụ Lê Thị Quạt, cụ Lê Thị Nữ, cụ Lê Thị Gió và cụ Lê Mười.

Cụ Lê Hượt có 2 vợ là cụ Trương Thị Dục và cụ Trương Thị Lập (ba cụ đều đã chết) và 9 người con, nhưng có hai người chết từ nhỏ là ông Lê Văn Loan và ông Lê Văn Dũng, còn lại 7 người gồm: Bà Lê Thị Thái, ông Lê Văn Lợi, ông Lê Văn Hùng, bà Lê Thị Ánh Nguyệt, bà Lê Thị Băng Loan, bà Lê Thị Bích Chi và ông Lê Quang Tần.

Cụ Lê Thị Quạt có chồng là cụ Nguyễn Tấn Thu (hai cụ đều đã chết) và 8 người con, nhưng có 3 người chết từ nhỏ là Nguyễn Tấn Đông, Nguyễn Tấn Ký và Nguyễn Tấn Quý, còn lại 5 người gồm: ông Nguyễn Tấn Hóa, bà Nguyễn Thị Thanh, bà Nguyễn Thị Minh Trang, ông Nguyễn Tấn Thân và bà Nguyễn Thị Mừng.

Ông Nguyễn Tấn Thân (chết năm 1965), có vợ là bà Lê Thị Chá và 2 con là chị Nguyễn Thị Thanh Huyền (chết năm 1977) và anh Nguyễn Tấn Khải.

Bà Nguyễn Thị Mừng (chết năm 2004), có chồng là ông Nguyễn Phiêu Linh và 5 ngưòi con là các anh, chị: Nguyễn Đạt Thanh Quyên, Nguyễn Khang Huy, Nguyễn Huy Đạt, Nguyễn Đạt Thanh Tâm và Nguyễn Tâm Khoa (chết năm 2001).

Sinh thời, cố An, cố Giếng có tạo lập được một căn nhà từ đường, một giếng nước và vườn dừa trên diện tỉch khoảng 4.212 m2 đất tại tổ 2, thôn Vĩnh Điềm Trung, xã Vĩnh Hiệp, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

Năm 1952, cố An chết, không để lại di chúc. Năm 1956, do căn nhà từ đường bị xuống cấp nên cố Giếng đã bàn với cụ Hượt phá đi để làm nhà từ đường mới. Cụ Hượt đã đầu tư tiền để xây lại nhà, các anh chị em cùng góp công sức, nhà mới xây trên nền nhà cũ và có tận dụng một số vật liệu của nhà cũ. Năm 1981, cố Giếng chết, không để lại di chúc. Năm 1987, cụ Hượt chết. Sau khi cụ Hượt qua đời, ông Lê Văn Lợi là con trai cả của cụ Hượt tiếp tục quản lý, sử dụng toàn bộ nhà đất nêu trên.

Ngày 10/5/1991, ông Lợi được ủy ban nhân dân thành phố Nha Trang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2000, ủy ban nhân dân thành phố Nha Trang cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lợi, trong giấy ghi cấp  cho hộ ông Lê Văn Lợi, bà Trần Thị Thọ (vợ của ông Lợi). Năm 2004, vợ chồng ông Lợi tự ý chia cho vợ chồng anh Lê Trần Anh Thi (con trai của ông Lợi) quyền sử dụng 300 m2 đất để anh Thi làm nhà ở riêng nên họ tộc không đồng ý, từ đó nảy sinh mâu thuẫn.

Nay cụ Mười khởi kiện, yêu cầu Tòa án chia thừa kế di sản của cố An, cố Giếng là quyền sử dụng diện tích đất nêu trên.

Bị đơn là ông Lê Văn Lợi (do anh Lê Trần Anh Thi đại diện theo ủy quyền) trình bày: Diện tích đất mà cụ Mười yêu cầu chia thừa kế có nguồn gốc là của nội tộc nhiều đời trước tạo lập được để lại cho vợ chồng cố An, cố Giếng sử dụng. Nam 1956, cụ Hượt đã phá cẩn nhà từ đường cũ, xây mới lại hoàn toàn. Năm 2000, vợ chồng ông Lợi đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông Lợi không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Mười vì di sản của cố An, cô Giếng đã không còn.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị Thọ (vợ của ông Lợi), anh Lê Trần Anh Thi và chị Trương Lê Kiều Liên (con trai, con dâu cua ông Lợi, bà Thọ) thống nhất với quan điểm của ông Lợi, không đồng ý chia thừa kế vì di sản của cố An, cố Giếng không còn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị Ảnh Nguyệt (con của cụ Hượt) co “Đơn xin chia di sản” ngày 22/6/2009 và quá trình tham gia tố tụng, ba Nguyệt yêu cầu Tòa án chia thừa kế quyền sử dụng phần đất mà cụ Hượt được hưởng, hiện ông Lợi đang quản lý cho toàn bộ các anh chị em của bà.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị Thái, bà Lê Thị Chá bà Lê Thị Bích Chi và anh Lê Tấn Khải đã có bản tự khai và văn bản gửi Toa án xác nhận nguồn gốc nhà đất có tranh chấp là của tổ tiên nhiều đời trước để lại cho cố Án, cố Giếng. Sau khi cố An, cố Giếng chết thì cụ Hượt là người quản lý, sử dụng, trên đất có xây nhà từ đường. Sau khi cụ Hượt chết, ông Lợi là con trai trưởng của cụ Hượt tiếp tục quản lý, trông coi; nay xảy ra tranh chấp thì đề nghị Tòa án giải quyết chia thừa kế theo pháp luật và xin được nhận bằng hiện vật, không yêu cầu chia căn nhà từ đường và giếng nước.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác cũng đề nghị Tòa án giải quyết chia thừa kế theo pháp luật và xin được nhận bằng hiện vật, không yêu câu chia căn nhà từ đường và giếng nước.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 01/2010/DSST ngày 22/01/2010, Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa quyết định:

Đình chỉ giải quyết vụ án “Tranh chấp thừa kế tài sản " giữa cụ Mười và ông Lợi.

Thay đổi địa vị tố tụng, bà Lê Thị Ánh Nguyệt từ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trở thành nguyên đơn, ông Lê Văn Lợi là bị đơn.

Xác định căn nhà từ đường có diện tích 254,25 m2, 01 giếng nước trên lô đất có diện tích 4.213 m2 (đo đạc thực tế là 4.067 m2) tại tổ 2 Vĩnh Điêm Trung, xã Vinh Hiệp, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa mà hộ ông Lê Vắn Lợi, bà Trần Thị Thọ đã được ủy ban nhan dân thành phố Nha Trang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 569746 ngày 29/12/2000 là di sản của cụ Lê Hượt cùng 2 vợ là Trương Thị Dục và Trần Thị Lập.

Chấp nhận yêu cầu chìa thừa kế tài sản của bà Nguyệt. Ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự không yêu cầu chia di sản là căn nhà từ đường và giếng nước.

Chia kỷ phần của từng người.

Ông Lợi được nhận giá trị kỷ phần là 4.776.824.000đ (trong đó trích công sức duy trì, quản lý di sản và công sức chăm sóc, phụng dưỡng người để lại di sản là 1.430,36m2 đất ở và 282m2 đất vườn, ao có tổng trị giá là 3.505.379.000đ).

Bà Nguyệt được nhận giá trị kỷ phần là 638.405.000đ.

Các ông, bà Lê Văn Hùng, Lê Thị Băng Loan, Lê Thị Bích Chỉ, Lê Thị Thái và Lê Quang Tần mỗi người được nhận giá trị kỷ phần là 604.390.000đ.

Trên cơ sở đó, Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành chia cho các đương sự hưởng thừa ké bằng hiện vật, có sơ đồ kèm theo bản án).

Ngày 25/01/201(3, bà Loan, bà Thái, ông Tần, ông Hùng, bà Nguyệt kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm giao cho ông Lợi được quyên sở hữu căn nhà từ đường là khống đúng, vì đó là di sản dùng vào việc thờ cúng; trích công sức duy trì, bảo quản di sản cho ông Lợi tương đương 42% giá trị di sản là quá nhiều, chỉ đồng ý trích bằng 5% giá trị di sản; buộc các ông bà phải thanh toán cho ông Lợi giá trị quyền sử dụng diện tích đất, làm lối đi chung là không hợp lý, đề nghị trừ lối đi chung trước khi chia hiện vật.

Ngày 26/01/2010, cụ Mười (do ông Tình đại diện) và cụ Nữ kháng cáo cho rằng nhà đất có nguồn gốc là của cố An, cố Giếng; Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ yêu cầu khởi kiện của cụ Mười với lý do di sản không còn, cụ Mười không có quyền khởi kiện là không đúng.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 35/2010/DSPT ngày 10,11/6/2010, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nằng quyết định sửa bản án sơ thẩm:

Không chấp nhận khảng cáo của cụ Mười, cụ Nữ. Chấp nhận kháng cáo của bà Loan, bà Nguyệt, ông Hùng, ông Tần.

Đình chỉ giải quyết vụ án “Tranh chấp thừa kể tài sản” đối với yêu cầu khởi kiện của cụ Mười.

Thay đổi địa vị tố tụng, bà Nguyệt từ người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trở thành nguyên đơn và ông Lợi là bị đơn.

Xác định căn nhà từ đường có diện tích 254,25 m2, 01 giếng nước trên lô đất tại tổ 2 Vĩnh Điềm Trung, xã Vĩnh Hiệp, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa có diện tích 4.213 m2 (đo đạc thực tế là 4.067 m2) tại tổ 2 Vĩnh Điềm Trung, xã Vĩnh Hiệp, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa mà hộ ông Lê Văn Lợi, bà Trần Thị Thọ đã được ủy ban nhân dân thành phố Nha Trang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 569746 ngày 29/12/2000 là di sản của cụ Lê Hượt cùng 2 vợ là Trương Thị Dục và Trần Thị Lập.

Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyệt chia thừa kế di sản của cụ Hượt, cụ Dục, cụ Lập.

Ghì nhận sự tự nguyện của các đương sự không yêu cầu chia căn nhà từ đường có diện tích 254,24 m2 và 01 giếng nước. Giao cho ông Lợi quản lý phần di sản này để thờ cúng.

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Lợi không yêu cầu các đương sự khác thanh toán giá trị quyền sử dụng đất trích làm lối đi chung.

Chìa kỷ phần của từng người:

Ông Lợi được nhận giá trị kỷ phần và trích công sức là 4.109.769. 000đ.

Bà Nguyệt được nhận giá trị kỷ phần là 638.405.000đ.

Các ông, bà Lê Văn Hùng, Lê Thị Băng Loan, Lê Thị Bích Chi, Lê Thị Thải và Lê Quang Tân mỗi người được nhận giá trị kỷ phân là 604.390.000đ.

(Trên cơ sở đó, Tòa án cấp phúc thẩm đã chia cho các đương sự hưởng thừa kể bằng hiện vật, có sơ đồ kèm theo).

Ngày 27/7/2010, cụ Mười có đơn đề nghị giám đốc thẩm, cho rằng nhà đất tranh chấp là di sản của cố An, cố Giếng, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm lại xác định là di sản của vợ chồng cụ Hượt; từ đó chia thừa kế cho các con của vợ chồng cụ Hượt là không đúng.

Tại Kháng nghị số 150/2013/KN-DS ngày 11/4/2013, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định:

Kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 35/2010/DSPT ngày 11/6/2010 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng;

Đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 01/2010/DSST ngày 22/01/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối ca