CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI CASELAW VIỆT NAM

Thông tin về Vị trí nhà, đất có tranh chấp tại https://caselaw.vn/tra-cuu-tranh-chap-bat-dong-san được cung cấp bởi Caselaw Việt Nam được thu thập từ nguồn nội dung của các bản án mà Caselaw Việt nam cho rằng là đáng tin cậy và dựa trên cơ sở “thực tế và sẵn có”.

Các vị trí nhà, đất có tranh chấp có thể là: 1) Vị trí nhà, đất thuộc diện thi hành án; hoặc 2) Vị trí nhà, đất bị thế chấp và có khả năng bị ngân hàng phát mại; hoặc 3) Lược sử vị trí nhà, đất đã bị tranh chấp và có thể kéo dài tới hiện tại.

Mục đích duy nhất của các thông tin này là nhằm hạn chế rủi ro pháp lý trong các giao dịch bất động sản liên quan đến các vị trí nhà, đất được chỉ ra ở dưới đây. Mặc dù đã cố gắng hết sức, Caselaw Việt Nam không đảm bảo rằng các thông tin được cung cấp là chính xác hoàn toàn, trọn vẹn và có thể giúp Quý khách hàng loại bỏ các rủi ro pháp lý tuyệt đối.

Bất kỳ hình thức sử dụng thông tin nào cần được cân nhắc kỹ lưỡng, có sự tư vấn của luật sư và tuân thủ quy định pháp luật.

Chân thành cảm ơn!



Vị trí mới cập nhật

Nội dung tranh chấp tại: Thửa đất số 143, diện tích 1.515,9m2 thuộc tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại số 2/76, Đinh Tiên Hoàng, khóm 2 (nay là khóm 4), phường 8, thị xã (nay là thành phố) Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long


Nguồn thông tin: Bản án/Quyết định số124/2013/DS-PTngày 12/04/2013 của Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh

Nội dung tóm lược:

Nguyên đơn:

1.  Bà Phan Thị Lệ Hồng, (sinh năm 1965) (vắng mặt).

Địa chỉ: 122A Nguyễn Văn Lâu, phường 8, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Ngọc Hùng, sinh năm 1967 (có mặt).

2.  Ông Phan Ngọc Thuận, (sinh năm 1971).

Địa chỉ: 100G Trần Bình Trọng, phường 1, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Ngọc Thành, sinh năm 1974 (có mặt).

3.  Ông Phan Ngọc Thành, (sinh năm 1974).

Địa chỉ: 2/76 Đinh Tiên Hoàng, khóm 2 (nay là khóm 4), phường 8, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).

4.  Ông Phan Ngọc Hùng, (sinh năm 1967).

Địa chỉ: 2/76 Đinh Tiên Hoàng, khóm 2 (nay là khóm 4), phường 8, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: ông Nguyễn Đức Hiền - Đoàn luật sư tỉnh Vĩnh Long (có mặt).

Bị đơn:

1.  Bà Phạm Thị Kim Châu, (sinh năm 1946).

Địa chỉ: 2/76 Đinh Tiên Hoàng, khóm 2 (nay là khóm 4), phường 8, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Ngọc Thắm (có mặt).

2.  Bà Phạm Thị Thu Vân, (sinh năm 1944).

Địa chỉ: 108 Đinh Tiên Hoàng, phường 8, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Phạm Thị Mến, (sinh năm 1939).

Địa chỉ: 127 Dalrymple Dr, Toronto Canada (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị Thu Vân (có mặt).

Trú tại: 126/27 Trần Phú, khóm 2, phường 4, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

2/ Ông Nguyễn Dương On, (sinh năm 1954) (có mặt).

Địa chỉ: 110B Đinh Tiên Hoàng, khóm 4, phường 8, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

3/ Bà Bạch Thùy Linh, (sinh năm 1973).

Người đại diện theo ủy quyền của bà Linh: Ông Phan Ngọc Thành, sinh năm 1974.

Địa chỉ: 2/76 Đinh Tiên Hoàng, khóm 2 (nay là khóm 4), phường 8, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).

4/ Bà Võ Thị Bích, (sinh năm 1977).

Người đại diện theo ủy quyền của bà Bích: Ông Phan Ngọc Hùng, sinh năm 1967.

Địa chỉ: 2/76 Đinh Tiên Hoàng, khóm 2 (nay là khóm 4), phường 8, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

5/ Trẻ Phan Thị Ngọc Hân, (sinh năm 1997).

Địa chỉ: 2/76 Đinh Tiên Hoàng, khóm 2 (nay là khóm 4), phường 8, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long. Đo ông Phan Ngọc Hùng làm đại diện (có mặt).

6/ Ông Phan Văn Em, (sinh năm 1926).

Địa chỉ: 13/3 ấp Tân An, xã Tân Hạnh, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long (chết 2013).

7/ Công chứng viên Trần Thị Minh, (sinh năm 1960).

Địa chỉ: 76/19B Phó Cơ Điều, phường 3, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện của chị Phan Thị Lệ Hồng, anh Phan Ngọc Hùng, anh Phan Ngọc Thuận và anh Phan Ngọc Thành ngày 06/8/2008 và các biên bản hòa giải ngày 17/12/2008; ngày 21/11/2011; ngày 22/02/2012; ngày 07/3/2012 và các tài liệu kèm theo, các nguyên đơn trình bày: Nguồn gốc đất thửa 144, diện tích 254,6m2 đất ao hồ đã chuyển mục đích lên đất vườn từ năm 2002 và thửa đất số 143, diện tích 1.515,9m2 đất thổ + vườn (147,5m2 đất thổ cư + 1.368,4m2 đất vườn) đều thuộc tờ bản đồ số 11, gắn liền với căn nhà tường cấp 4 tọa lạc tại số 2/76, Đinh Tiên Hoàng, khóm 2 (nay là khóm 4), phường 8, thị xã (nay là thành phố) Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long là của cụ Phạm Văn Phát và cụ Đặng Thị Trâm. Năm 1968 cụ Phát chết, năm 1969 cụ Trâm cho cha mẹ các nguyên đơn là bà Phạm Thị Kim Châu và ông Phan Văn Biền (bà Châu là cháu nội cụ Trâm, cụ Phát) khoảng 5.000m2 đất ruộng bà Châu và ông Biền đã xây dựng nhà trên đất từ năm 1969 và lên liếp lập vườn, năm 1977 ông Biền chết bà Châu và các nguyên đơn tiếp tục quản lý, sử dụng đất và trồng cây trên đất. Tài sản có trên đất là tài sản chung của ông Biền và bà Châu và các nguyên đơn chứ không phải là tài sản riêng của bà Châu. Việc bà Châu ký hợp đồng chuyển nhượng đất gắn liền với căn nhà, cây trồng trên diện tích đất 1.770,5m2 - đất thổ vườn thửa 143 - 144 là xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các nguyên đơn. Vì vậy, các nguyên đơn yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Phạm Thị Kim Châu với bị đơn bà Phạm Thị Thu Vân ngày 04/3/2008. Mẹ của các nguyên đơn là bà Phạm Thị Kim Châu đã nhận của bà Phạm Thị Mến 130.000.000 đồng các nguyên đơn đồng ý trả lại 130.000.000 đồng cho bà Mến.

Riêng Hợp đồng ủy quyền ngày 13/02/2008; Tờ thỏa thuận ngày 14/02/2008 và Tờ thỏa thuận và cam kết ngày 04/3/2008 ký giữa bà Phạm Thị Kim Châu; Phan Ngọc Thành; Phan Ngọc Hùng; Phan Ngọc Thuậnvới bà Phạm Thị Mến có chứng nhận của công chứng viên Trần Thị Minh tại Phòng Công chứng số 1 tỉnh Vĩnh Long. Có nội dung: hai bên thông nhất xác định thửa đất 143 và 144 có diện tích 1.770,5m2 đất thổ vườn là của bà Mến do bà Mến được chia thừa kế vào năm 1998 cho bà Phạm Thị Kim Châu mượn và bà Châu đứng tên giấy chứng nhận dùm, nên nay bà Châu và các con Phan Ngọc Hùng, Phan Ngọc Thuận và Phan Ngọc Thành đồng ý giao trả 2 thửa đất 143 - 144 lại cho bà Mến và bà Mến bồi hoàn trị giá tài sản trên đất = 230.000.000 đồng (bà Châu và anh Hùng, anh Thuận, anh Thành đã ký tên và nhận trước 130.000.000 đồng vào ngày 04/3/2008).

Việc bà Châu, anh Hùng, anh Thành, anh Thuận ký với bà Mến các giấy tờ trên là do không hiểu pháp luật và do Công chứng viên Trần Thị Minh công chứng vi phạm pháp luật nên các nguyên đơn yêu cầu hủy bỏ hợp đồng ủy quyền ngày 13/02/2008; Tờ thỏa thuận ngày 14/02/2008 và Tờ thỏa thuận và cam kết ngày 04/3/2008 ký giữa bà Phạm Thị Kim Châu; Phan Ngọc Thành; Phan Ngọc Hùng; Phan Ngọc Thuận với bà Phạm Thị Mến có chứng nhận của công chứng viên Trần Thị Minh tại Phòng Công chứng số 1 tỉnh Vĩnh Long.

Tại bản tự khai của bị đơn Phạm Thị Kim Châu (BL 39) và những lời trình bày tiếp theo của người đại diện cho bà Châu, trình bày: Năm 1969, bà Phạm Thị Kim Châu được bà nội là cụ Đặng Thị Trâm cho mảnh vườn cất nhà ở và làm mộng, diện tích khoảng 5.000m2, năm 1977 bà nội bà là cụ Trâm kêu bà chia cho cháu ngoại là ông Nguyễn Dương On 2.000m2 còn lại bà sử dụng và đã kê khai theo chỉ thị 299 không ai tranh chấp. Năm 1987, nhà cũ hỏng bà cất lại nhà cấp 4, không ai có ý kiến gì. Khi tập đoàn tan rã năm 1998, cha bà là ông Phạm Văn Em đã họp gia tộc dựng lên tờ tương phân, ngày 10/9/1998 do bà Châu là hàng con cháu nên không dám có ý kiến gì. Từ khi được cho, bà đã bỏ nhiều công sức cải tạo đất. Trước đây năm 2005, bà làm ăn thua lỗ, bà Phạm Thị Mến về nước sợ bà bán đất nên đã mượn 2 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà và giữ luôn. Năm 2008 bà Mến đã đưa bà ký Hợp đồng ủy quyền ngày 13/02/2008; Tờ thỏa thuận ngày 14/02/2008 và Tờ thỏa thuận và cam kết ngày 04/3/2008 và Hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 04/3/2008 để chuyển nhượng toàn bộ phần đất thửa 143 diện tích 147,5m2 đất thổ cư + 1.368,4m2 đất vườn và thửa 144 diện tích 254,6m2 đất vườn tờ bản đồ số 11 tọa lạc tại số 2/76 Đinh Tiên Hoàng, khóm 2 (nay là khóm 4), phường 8thị xã (nay là thành phố) Vĩnh Long, tĩnh Vĩnh Long lại cho bà Mến và bà Mến bồi hoàn giá trị tài sản trên đất là 230.000.000 đồng bà Châu và các con đã nhận trước 130.000.000 đồng, việc ký các giấy tờ trên là do bà không hiểu pháp luật và không thông qua các con. Nay các con bà chưa được chia thừa kế đất của chồng bà, đã ngăn cản không cho bà chuyển nhượng đất, bà cũng không đồng ý chuyển nhượng đất nữa; bà đồng ý hủy hợp đồng như yêu cầu của các nguyên đơn, bà đồng ý trả lại bà Mến 130.000.000 đồng. Bà Châu còn yêu cầu bà Mến trả lại bà Châu 2 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 143, 144.

Đại diện bà Châu chị Lê Thị Ngọc Thắm thông nhất giá đất thổ 1.500.000đ/m2; giá đất vườn 1.200.000đ/m2 (theo biên bản hòa giải ngày 21/11/2011 và biên bản định giá ngày 29/6/2012).

Bị đơn bà Phạm Thị Thu Vân, tại biên bản hòa giải ngày 17/12/2008 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, trình bày: việc bà đứng tên trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 04/3/2008 với bà Châu, chỉ là đứng tên để đóng thuế cho Nhà nước thay cho bà Mến. Vì đất là cửa bà Mến được chia thừa kế năm 1998 theo tờ thuận phân ngày 10/9/1998 có ký tên xác nhận của ông Nguyễn Dương On và bà Phạm Thị Kim Châu, do bà Mến là người nước ngoài nên để cho bà Châu đứng tên giữ đất dùm, ngày 04/3/2008 bà Phạm Thị Kim Châu cùng Phan Ngọc Hùng, Phan Ngọc Thuận, Phan Ngọc Thành ký tờ thỏa thuận và cam kết trả lại đất thửa 143, 144 cho bà Mến, nên bà Mến nhờ bà đứng tên, tiền 130.000.000 đồng bà Châu và các con nhận theo hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 04/3/2008 là do bà Mến trực tiếp đưa. Nay bà Vân đề nghị giải quyết theo yêu cầu của bà Phạm Thị Mến vì bà chỉ là người được bà Mến nhờ đứng tên dùm để giữ đất và làm nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, ngoài ra bà Vân không có yêu cầu hay tranh chấp gì cho cá nhân bà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Mến có yêu cầu độc lập: Đòi lại quyền sử dụng đất mà bà Phạm Thị Kim Châu đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 143 và 144 diện tích chung 1.770.5m2 đất thổ - vườn. 

Theo đơn yêu cầu ngày 04/12/2008, tờ tường trình về việc đòi lại tài sản ngày 17/12/2008, ngày 09/01/2012, biên bản hòa giải ngày 21/11/2011, ngày 22/02/2012, ngày 07/3/2012, bà Phạm Thị Mến trình bày: Hiện nay bà đang định cư tại Canada, năm 1998 khi được hưởng kỷ phần thừa kế đất do cha mẹ bà là cụ Phạm Văn Phát (chết năm 1968) và cụ Đặng Thị Trâm (chết năm 1993) để lại theo “Tờ thuận phân” ngày 10/9/1998, bà đã giao cho một người cháu tên Nguyễn Dương On mượn sử dụng một phần đất (đã được giải quyết bằng bản án số: 251/2011/DSPT ngày 28/9/2011 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh) phần còn lại là thửa 143 và 144 cho cháu là Phạm Thị Kim Châu con gái ông Phạm Văn Em mượn canh tác. Năm 1998 khi lập “Tờ thuận phân” chính bà Phạm Thị Kim Châu đã ký cam kết có nội dung “Tôi là Phạm Thị Kim Châu có trên phần đất thực của bà Mến (Cô Chính) sau bà Mến có ý gì tôi chấp nhận theo ý”. Năm 2008 bà Châu và các con ký: “Hợp đồng ủy quyền” ngày 13/02/2008; “Tờ thỏa thuận” ngày 14/02/2008 và “Tờ thỏa thuận và cam kết” ngày 04/3/2008: bà Châu và các con thừa nhận thửa đất 143 - 144 là của bà Mến nên đồng ý trả đất thửa 143 - 144 và để lại căn nhà cùng cây trồng trên đất cho bà, bà sẽ trả cho bà Châu 230.000.000 đồng và bà Châu cùng các con đã nhận 130.000.000 đồng, sau đó thay đổi ý kiến không giao đất gắn liền với nhà và cây trồng trên đất cho bà. Bà Mến xác định việc ký hợp đồng chuyển nhượng đất giữa bà Châu và bà Vân là không có thật, vì bà Vân chỉ đứng tên để giữ đất và đóng thuế thay bà, 130.000.000 đồng là tiền của bà giao cho bà Châu chứ không phải của bà Vân.

Vụ án đã được Tòa án các cấp giải quyết nhiều lần tại Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2009/DSST ngày 27/5/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long; Bản án dân sự phúc thẩm số 344/2009/DS-PT ngày 20/11/2009 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và Quyết định Giám đốc thẩm số: 22/2011/QĐ-GĐT ngày 01/7/2011 của Hội đồng Thẩm phán. Tòa án nhân dân tối cao.

Sau khi thụ lý giải quyết lại, bà Mến yêu cầu: bà là người nước ngoài không được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đồng ý để toàn bộ thửa đất 144 có diện tích 254,6m2 đất vườn và thửa đất số 143, diện tích 1.515,9m2 đất thổ + vườn (147,5m2 đất thể cư + 1.368,4m2 đất vườn) đều thuộc tờ bản đồ số 11 tọa lạc tại số 2/76 Đinh Tiên Hoàng, khóm 2 (nay là khóm 41 – phường 8 thị xã (nay là thành phố Vĩnh Long tỉnh Vĩnh Long) cho bà Châu và các con bà Châu được tiếp tục quản lý và trọn quyền sử dụng, bà Châu và các con của bà Châu liên đới trả 80% giá trị quyền sử dụng đất cho bà theo giá 1.500.000đ/m2 đất thổ cư và 1.200.000đ/m2 đất vườn. Phần 20% giá trị còn lại là công sức bồi đắp giữ gìn đất, bà trả cho bà Châu và các con của bà Châu.

Ngoài ra bà Mến còn yêu cầu bà Châu và các con đã nhận của bà 130.000.000 đồng từ ngày 04/3/2008 phải trả lãi suất 1%/tháng tính trên số tiền 130.000.000 đồng từ ngày 04/3/2008 đến nay.

Anh Phan Ngọc Hùng, Phan Ngọc Thành không đồng ý như yệu cầu đòi lại quyền sử dụng đất của bà Mến, hai anh thống nhất giá đất thổ 1.500.000đ/m2; giá đất vườn 1.200.000đ/m2 (theo biên bản hòa giải ngày 21/11/2011 và biên bản định giá ngày 29/6/2012).

Ngoài ra tại biên bản hòa giải không được ngày 07/3/2012 anh Phan Ngọc Thành còn trình bày: toàn bộ phần đất tranh chấp trước đây là đất ruộng, nếu không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn thì nguyên đơn chỉ đồng ý bồi hoàn giá tri quyền sử dụng đất cho bà Mến là giá đất ruộng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn Em trình bày (theo biên bản không hòa giải được ngày 22/02/2012: Tôi (ông Em) là con trai duy nhất trong gia đình, khi cha mẹ qua đời Tôi đứng ra làm tờ tương phân chia cho anh, em Tôi mỗi người hưởng 05 công đất đều nhau. Phần bà Mến được hưởng 05 công (5.000m2). Phần đất được hưởng của bà Mến để cho cháu là Nguyễn Dương On và Phạm Thị Kim Châu (con gái Tôi) mượn canh tác, Nguyễn Dương On và Phạm Thị Kim Châu có ký cam kết trong tờ tương phân ngày 10 tháng 9 năm 1998. Nếu sau này bà Phạm Thị Mến cần thì trả lại.

Toàn bộ các phần đất mà Tôi đứng chia trong tờ tương phân là của cha mẹ Tôi là Phạm Văn Phát và Đặng Thị Trâm để lại. Trước khi đất đưa vào tập đoàn các phần đất là do Tôi quản lý canh tác. Đến khi vào tập đoàn do Tôi có hộ khẩu tại xã Tân Hạnh, huyện Long Hồ nên Tôi giao đất cho tập đoàn và về Tân Hạnh, huyện Long Hồ nhận đất khác để canh tác.

Sau khi tập đoàn tan rã Tôi nhận lại đất từ tập đoàn và đứng ra làm tờ tương phân (ngày 10/9/1998) chia lại đất cho các chị em như nêu trên.

Việc Phạm Thị Kim Châu nói phần đất đang tranh chấp với bà Mến hiện nay là do mẹ tôi cụ Đặng Thị Trâm cho vào năm 1969 là không đúng vì mẹ tôi không có cho.

Tại tờ trình ngày 07/5/2009 và các lời khai tiếp theo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Dương On (người có tranh chấp với bà Mến đã được giải quyết tại bản án số: 251/2011/DSPT ngày 28/9/2011 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh) trình bày: Năm 1976, ông lập gia đình ra riêng nên có xin bà ngoại là Đặng Thị Trâm một phần đất để ở. Cụ Đặng Thị Trâm đã yêu cầu bà Châu nhượng lại cho ông 02 công với giá 10 giạ lúa, việc sang nhượng không có làm giấy tờ, ông On đã sử dụng liên tục phần đất bà Châu đã nhượng cho ồng từ năm 1976 đến nay. Ông On khẳng định đất bà Châu đang sử dụng hiện nay kể cả đất ông đang sử dụng liền kề với đất bà Châu hiện đang tranh chấp không phải là đất của bà Mến mà là đất của ông bà để lại từ năm 1969.

Chị Bạch Thùy Linh là vợ của anh Phan Ngọc Thành; chị Võ Thị Bích là vợ của anh Phan Ngọc Hùng đều đồng ý theo yêu cầu của người đại diện là anh Thành và anh Hùng.

-  Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công chứng viên Trần Thị Minh - Phòng công chứng số 1 tỉnh Vĩnh Long, trình bày (Tờ phản tố BL 438, 439): Tôi làm bản tự khai để phản tố lại ý kiến của các ông, bà Phan Thị Lệ Hồng, Phan Ngọc Hùng, Phan Ngọc Thuận và Phan Ngọc Thành, về yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long hủy các giây tờ sau đây do tôi trực tiếp công chứng gồm:

-  Hợp đồng ủy quyền ngày 13/02/2008;

-  Tờ thỏa thuận ngày 14/02/2008;

-  Hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 04/3/2008.

Lý do các ông bà có tên nêu trên yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long hủy vì: “Công chứng trái pháp luật, không đúng sự thật khách quan”.

Tôi xét thấy: lý do mà các ông bà có tên nêu trên nại ra là không đúng vì:

-  Tôi khẳng định các văn bản nêu trên hoàn toàn được chứng nhận một cách đúng sự thật, khách quan, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội bởi lẽ:

-  Việc công chứng của tôi là đúng sự thật, sự thật ấy là những việc có thật đã xảy ra và sự việc đó được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận.

- Đối chiếu các quy định hiện hành của pháp luật và nền tảng của hệ thống chuẩn mực đạo đức xã hội chủ nghĩa thì tất cả các văn bản trên được các bên giao kết hoàn toàn trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, không bên nào bị lừa dối hay ép buộc và vào thời điểm công chứng các bên đều đủ năng lực hành vi.

-  Nội dung các văn bản nêu trên đều được thiết lập xuất phát từ thực tế của sự việc và đúng với sự thật của sự việc, công chứng viên chỉ là người ghi lại đúng nội dung yêu cầu của các bên, công chứng viên không tự ý ghi thêm hay bớt nội dung mà các bên đã đặt ra.

-  Tất cả các văn bản trên đều được các bên ký tên và lăn dấu vân tay trước mặt tôi và chính tôi là người trực tiếp lấy chữ ký cũng như lăn dấu vân tay của các bên.

Vì vậy việc các ông bà Phan Thị Lệ Hồng, Phan Ngọc Thành, Phan Ngọc Thuận, Phan Ngọc Hùng cho rằng các văn bản nêu trên được tôi công chứng trái pháp luật, trái đạo đức, không đúng sự thật, không khách quan chỉ là những điều mà các ông bà có tên nêu trên nói quàng, nói xiên, nói trái lương tâm đạo đức của chính họ vào thời điểm họ công chứng, việc làm này chẳng qua chỉ làm cho vụ kiện tăng thêm phần rắc rối, kéo dài thời gian...

Việc các ông bà nêu trên yêu cầu hủy các văn bản do chính bản thân họ tự nguyện giao kết trong lúc trí óc minh mẫn và được công chứng việc chứng nhận đúng trình tự luật định chính là điều trái pháp luật.

Vì vậy, tôi yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, xem xét để bác yêu cầu nêu trên của các ông bà Phan Thị Lệ Hồng, Phan Ngọc Thành, Phan Ngọc Thuận, Phan Ngọc Hùng.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 13/2012/DS-ST ngày 03/6/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long quyết định

Áp dụng các Điều 127, 128, 135, 245, 256, 733 của Bộ luật dân sự; Điều 113 của Luật đất đai; Điều 14, khoản 2 Điều 27 của Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án; xử: 

1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn: Phan Ngọc Thành, Phan Ngọc Hùng, Phan Ngọc Thuận và Phan Thị Lệ Hồng:

Tuyên bố Hợp đồng ủy quyền ngày 13/02/2008 cùng nội dung thứ 2 và nội dung thứ 3 của Tờ thỏa thuận ngày 14/02/2008, Tờ thỏa thuận và cam kết ngày 04/3/2008 đã ký giữa bà Phạm Thị Kim Châu và các anh Phan Ngọc Hùng, Phan Ngọc Thành, Phan Ngọc Thuận với bà Phạm Thị Mến là vô hiệu.

Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng đất lập ngày 04/3/2008 giữa bà Phạm Thị Kim Châu với bà Phạm Thị Thu Vân là vô hiệu.

2/ Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Phạm Thị Mến.

2.1.Buộc hộ bà Phạm Thị Kim Châu, gồm: Bà Phạm Thị Kim Châu, anh Phan Ngọc Thành, Phan Ngọc Hùng, Phan Ngọc Thuận và chị Phan Thị Lệ Hồng phải liên đới trả cho bà Phạm Thị Mến giá trị quyền sử dụng thửa đất số 143, 144, diện tích thực tế là 1.740m2, trong đó có 147m2 đất thổ cư và 1.593m2 đất quả, với tổng số tiền là 2.132.100.000 đồng (Hai tỷ một trăm ba mươi hai triệu một trăm ngàn),

2.2.Buộc bà Phạm Thị Mến bù đắp cồng sức gìn giữ, bồi đắp đất ruộng lên vườn cho hộ bà Phạm Thị Kim Châu với số tiền: 710.700.000 đồng (bảy trăm mười triệu bảy trăm ngàn đồng).

2.3.Khấu trừ hai khoản tiền tại mục 2.1 và 2.2 của quyết định này, hộ bà Phạm Thị Kim Châu phải trả cho bà Phạm Thị Mến số tiền 1.421.400.000 đồng và 130.000.000 đồng tiền nhận theo Tờ thỏa thuận và cam kết ngày 04/3/2008.

Tổng cộng hộ bà Phạm Thị Kim Châu, gồm: Bà Phạm Thị Kim Châu, anh Phan Ngọc Thành, Phan Ngọc Hùng, Phan Ngọc Thuận và chị Phan Thị Lệ Hồng phải liên đới trả cho bà Phạm Thị Mến 1.551.400.000 đồng (một tỷ năm trăm năm mươi mốt triệu bôh trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, đối với số tiền còn lại phải thi hành, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm một khoản tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

2.4.Bà Phạm Thị Mến phải giao trả cho hộ bà Phạm Thị Kim Châu các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa N922810 và số bìa G466605 do bà Phạm Thị Kim Châu đứng tên, được ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long cấp ngày 22/12/1999.

2.5.Hộ bà Phạm Thị Kim Châu được trọn quyền quản lý, sử dụng thửa đất số 143, 144 và trọn quyền sở hữu các loại tài sản trên đất. Các thửa đất đều thuộc tờ bản đồ số 11 tọa lạc tại số 2/76 Đinh Tiên Hoàng, khóm 2 (nay là khóm 4), phường 8, thị xã (nay là thành phố) Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long diện tích thực tế 1.798,8m2 trong đó có 58,4m2 thuộc kinh (vị trí, tứ cận: có trích đo bản đồ địa chính khu đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Long lập ngày 03/3/2009 kèm theo bản án).

  3/ Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 168, khoản 1 Điều 192, 193 Bộ luật tố tụng dân sự. Đình chỉ giải quyết đốì với phần diện tích 58,4m2 thuộc kinh công cộng, do không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

  Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luậtđịnh.

-  Ngày 17/8/2012 nguyên đơn các ông, bà: Phan Thị Lệ Hồng, Phan Ngọc Thuận, Phan Ngọc Thành, Phan Ngọc Hùng có đơn kháng cáo yêu cầu hủy án sơ thẩm.

-  Ngày 17/8/2012 bị đơn bà Phạm Thị Kim Châu kháng cáo đề nghị hủy án sơ thẩm.

Ngày 17/8/2012 bị đơn, Phạm Thị Thu Vân có đơn kháng cáo phần tính lãi suất.

Ngày 17/8/2012 người liên quan bà Bạch Thùy Linh, Võ Thị Bích, Phan Ngọc Hân do ông Phan Ngọc Hùng làm đại diện kháng cáo đề nghị hủy án sơ thẩm