CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI CASELAW VIỆT NAM


168/DS-GĐT: Tranh chấp quyền sở hữu tài sản

  • 25
  • 1

Tranh chấp quyền sở hữu tài sản

22-04-2014

Trong đơn khởi kiện ngày 13/7/2008 nguyên đơn chị NĐ_Đặng Thị Hạ trình bày: Vào năm 2003, chị có mua đất và làm nhà tại số 12, khu K3, đường NCD, tổ 35, phường AHB, quận ST, thành phố ĐN. Vì điều kiện ở xa nên chị nhờ vợ chồng em gái là Đặng Thị Hòa và Nguyễn Công Sơn trú tại B4 lô 34 đường LHP, phường AHB, quận ST, thành phố ĐN trực tiếp giao dịch mua đất và ký hợp đồng xây dựng nhà với nhà thầu trên lô đất nêu trên với tổng số tiền khoảng 600.000.000đ (sáu trăm triệu đồng). Sau khi làm xong nhà, chị NĐ_Hạ mời bố, mẹ chị là ông BĐ_Thông và bà BĐ_Nhiên (lúc bấy giờ đang sống tại xã HT, huyện HV, thành phố ĐN) đến sống trong ngôi nhà này để gần gũi con cái. Ông BĐ_Thông, bà BĐ_Nhiên đã đề xuất với vợ chồng em gái chị là chị Hòa, anh Sơn để cho ông, bà đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của chị NĐ_Hạ nhằm tạo điều kiện cho ông BĐ_Thông, bà BĐ_Nhiên chuyển hộ khẩu về quận ST và chị Hòa, anh Sơn đã đồng ý.

281/2014/DS-ST: Tranh chấp quyền sở hữu tài sản

  • 188
  • 9

Tranh chấp quyền sở hữu tài sản

Sơ thẩm
22-08-2014

Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/10/2005 và trong các lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn là bà NĐ_Nguyễn Thị Linh và thông qua người đại diện theo ủy quyền Phạm Thị Hồng trình bày: Căn nhà số 12 Lô F (nay mang số 257) VT, Phường 7, Quận X có nguồn gốc của ông Võ Văn Ưu, năm 1974 ông Ưu về quê ở LA sinh sống để lại căn nhà trên cho ông BĐ_Võ Sĩ Luân là 1 trong 7 người con của ông Ưu quản lý. Cũng trong thời gian này ông BĐ_Luân đã bán căn nhà này cho bà Nguyệt bằng giấy tay, năm 1976 bà NĐ_Nguyễn Thị Linh mua lại căn nhà này từ bà Nguyệt cũng bằng giấy tay (hiện giấy tay này đã thất lạc) với giá là 190.000đ.

80/2015/DS-ST: Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản

  • 86
  • 11

Tranh chấp quyền sở hữu tài sản

Sơ thẩm
02-04-2015

Ngày 01/9/2003, ông BĐ_Nguyễn Văn Nhã và ông NĐ_Trần Xanh ký kết hợp đồng mua bán căn nhà, đất số 785/23A HV (số mới là: 207/31 KDV), Phường Y, Quận X, Thành phố HCM (sau đây gọi tắt là: nhà 207/31 KDV); hợp đồng đã được Phòng công chứng số 2 Thành phố HCM công chứng số 024353. Đến ngày 04/9/2003, ông NĐ_Xanh đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà nước. Ngày 08/9/2003, Ủy ban nhân dân Quận X, Thành phố HCM đã đăng bộ sang cho ông NĐ_Xanh đứng tên chủ quyền căn nhà này.

Bản án/Quyết định số: 363/2014/DS-ST

  • 220
  • 8

Tranh chấp quyền sở hữu tài sản

Sơ thẩm
13-11-2014

Ông NĐ_Gương bà NĐ_Chi là con của ông Chung Bồi (đã chết, không nhớ năm nào) và bà Nguyễn Thị Ngành (chết năm 1948). Bà Ngành là con của ông Nguyễn Văn Bảy (chết năm 1981) và bà Huỳnh Thị Xi (chết năm 1996). Ông Bảy bà Xi có tất cả 02 người con là bà Ngành và ông Nguyễn Văn Sang (chết năm 2003). Ông Sang (trước năm 1975 ông Sang còn có tên là Nguyễn Văn Ba - gọi là Ba Nhỏ) có tất cả 03 vợ. Người vợ thứ nhất là bà Nguyễn Thị Tư (chết năm 2001), không có con chung, chỉ có 02 người con nuôi là ông LQ_Đỗ Như Vân (còn có tên là Nguyễn Văn Trọng) và ông BĐ_Nguyễn Trung Thu. Người vợ thứ hai là bà LQ_Nguyễn Thị Ngân, có 02 người con chung là ông LQ_Nguyễn Văn Tuấn và bà LQ_Nguyễn Thị Bình. Người vợ thứ ba là bà Huỳnh Thị Truyện (chết không nhớ năm nào), có 01 con chung là bà LQ_Huỳnh Thị Hương. Bà LQ_Nguyễn Thị Ngân có tất cả 3 người con là ông LQ_Nguyễn Văn Tuấn, bà LQ_Nguyễn Thị Bình và ông Nguyễn Văn Rớt.

Bản án/Quyết định số: 42/2008/DS-GĐT

  • 70
  • 3

Tranh chấp quyền sở hữu tài sản

23-12-2008

NĐ_Công ty có chiếc máy xúc hiệu DAEOO/SOLAR 130W-III có số khung SL 130W-1955, số máy DB58-400258, mua của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xuất nhập khẩu Thương mại và Dịch vụ Thiên Hà (gọi tắt là Công ty Thiên Hà) vào ngày 18-4-2003 với số tiền 134.925.000 đồng, theo hóa đơn giá trị gia tăng số CN 047204. Sau khi mua được máy, NĐ_Công ty XYA đã đưa máy xúc lên thi công tại công trình đường giao thông nông thôn huyện BY, tỉnh Sơn LA. NĐ_Công ty XYA ký hợp đồng giao cho ông BĐ_Nguyễn Văn Phi trực tiếp khai thác quản lý máy. Ông BĐ_Phi không thực hiện hợp đồng, đưa máy về làm riêng. Hết thời hạn, ông BĐ_Phi không giao máy và nộp tiền cho NĐ_Công ty XYA. Ông Nho đề nghị Tòa án xác nhận chiếc máy xúc trên thuộc quyền sở hữu của NĐ_Công ty XYA, buộc ông BĐ_Phi trả máy và số tiền thuê máy là 152.000.000 đồng.