TRA CỨU BẢN ÁN TRỰC TUYẾN & HỢP ĐỒNG MẪU


165/2014/DS-GĐT: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • 151
  • 11

Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

30-11--0001

Năm 1996, bà NĐ_Hoa chuyển nhượng 600m2 đất cho anh BĐ_Linh và chị BĐ_Tuấn giá 10 chỉ vàng 24k; lúc này đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên hai bên chỉ làm giấy tay, ông NĐ_Ngân và bà NĐ_Hoa đứng tên trong sổ bộ đất, hai bên đã giao vàng và đất xong nhưng không có làm biên nhận, hai bên thỏa thuận chi phí làm thủ tục chuyển nhượng do anh BĐ_Linh và chị BĐ_Tuấn chịu, anh BĐ_Linh và chị BĐ_Tuấn đã sử dụng diện tích đất này từ đó đến nay. Khoảng tháng 9, 10/1995 gia đình ông NĐ_Ngân có cho ông LQ_Ngà, bà LQ_Linh mượn diện tích đất là 1.600m2 tọa lạc tại tổ 35, khóm 4, phường 6, thành phố CL để cố cho vợ chồng anh BĐ_Nguyễn Văn Linh, chị BĐ_Trần Thị Tuấn giá 25 chỉ vàng 24k và thỏa thuận khi nào có vàng sẽ chuộc lại đất. Việc thỏa thuận cầm cố không có làm giấy tờ.

97/2014/DS-GĐT: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • 10
  • 3

Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

05-03-2014

Nguồn gốc đất tranh chấp là của cha mẹ là cụ Nguyễn Văn Sáu và cụ Trần Thị Mậu. Những người con của hai cụ gồm: LQ_Nguyễn Thị Hương, LQ_Nguyễn Thị Vy, Nguyễn Văn Mách (chết năm 2007), Nguyễn Thị Bảy (chết năm 2002), LQ_Nguyễn Văn Tịnh, BĐ_Nguyễn Văn An, NĐ_Nguyễn Văn Hân, LQ_Nguyễn Văn Đương. Cụ Mậu chết năm 1976. Ngày 22/04/1992 cụ Nguyễn Văn Sáu lập “Tờ phân chia di sản” cho các con. Theo tờ phân chia này cụ Sáu chia cho các con trai (không chia đất cho các con gái) các phần đất ở nhiều nơi khác nhau, trong đó có một phần đất 3600m2, tọa lạc ấp Phú Xuân A, xã PH A, huyện CT, tỉnh HG thì cụ Sáu chia làm hai. Diện tích 1800m2 giáp với Tư Tính cụ Sáu chia cho LQ_Nguyễn Văn Đương, phần 1800m2 còn lại có một cái nhà cụ Sáu không phân chia mà để lại dưỡng già, sau khi cụ chết thì tùy vào các con ai trông coi và thờ phượng thì được sử dụng, không được sang bán. Sau khi cụ Sáu chết được 3 tháng thì ông NĐ_Hân đã vào quản lý, canh tác đối với phần đất hương hỏa trên, có diện tích khoảng 1800m2.

42/2014/DS-GĐT: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • 11
  • 2

Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

18-02-2014

Theo đơn khởi kiện ngày 20/3/2011 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà NĐ_Nguyễn Thị Hoa trình bày: Năm 2000 vợ chồng bà có mua của ông Vũ Văn Hoà là người cùng thôn thửa đất có diện tích 90m2 ở thôn An Ninh, xã YP, huyện YP với giá 32.500.000đ. Nguồn gốc thửa đất này là do ông Hòa mua của ông Trần Văn Lục, còn ông Lục lại mua của HTX dịch vụ Nông nghiệp Yên Sơn cũ (gồm 3 thôn An Ninh, Cầu Giữa, An Lập) từ năm 1994. Năm 2001 vợ chồng bà có điều tiếng với nhau nên ngày 03/02/2001 (âm lịch) chồng bà là ông NĐ_Trần Văn Sinh đã tự ý viết giấy bán thửa đất cho bà BĐ_Nguyễn Thị Vy, đến ngày 07/02/2001 bà mới biết việc ông NĐ_Sinh tự ý bán đất không được sự đồng ý của bà. Ngày 14/02/2001 bà có gọi bà BĐ_Vy vào nhà và bảo là không đồng ý việc ông NĐ_Sinh bán đất, bà BĐ_Vy cũng đã nhất trí không có việc mua bán đất nữa.

35/2014/DS-GĐT: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • 19
  • 3

Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

24-01-2014

Theo Đơn khởi kiện ngày 02/12/2008 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông NĐ_Nguyễn Văn Hoa trình bày: Ngày 21/02/2003, vợ chồng ông BĐ_Hoàng Ngọc Hân, bà BĐ_Trần Thị Hữu thỏa thuận chuyển nhượng 100m2 đất ở khu quy hoạch tái định cư số 02 đường Hoàng Phan Thái với giá 63.500.000 đồng cho ông. Ông đã thanh toán cho ông BĐ_Hân, bà BĐ_Hữu số tiền 62.180.000 đồng, số tiền còn lại khi ông BĐ_Hân, bà BĐ_Hữu làm thủ tục chuyển nhượng theo quy định của pháp luật, ông sẽ thanh toán sau. Khi ông mua đất, vợ chồng ông BĐ_Hân cam đoan lô đất đó của ông BĐ_Hân, do sợ kiện cáo nên ông BĐ_Hân nhờ mẹ là bà Hoàng Thị Hậu đứng tên. Sau này Ban quản lý dự án có quyết định giao lô đất đó thì ông BĐ_Hân chịu trách nhiệm làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

482/2014/DS-GĐT: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • 19
  • 2

Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

28-11-2014

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 30/6/2010, đơn bổ sung ngày 25/4/2011 và ngày 22/6/2011 và quá trình tố tụng, nguyên đơn và đại diện nguyên đơn ông LQ_Long trình bày: Ngày 10/9/2009, ông NĐ_Tài có ký hợp đồng CNQSD đất với ông BĐ_Nguyễn Văn Lân, diện tích 32.259 m2 tại thửa đất số 61, tờ bản đồ số 06 tại ấp Tân Đức, xã MT, huyện DT, giá chuyển nhượng là 700.000.000đ, phương thức thanh toán 01 lần ngay sau khi ký hợp đồng, ông NĐ_Tài có nghĩa vụ đăng ký QSD đất tại cơ quan có thẩm quyền, ông BĐ_Lân có nghĩa vụ giao đất cho ông NĐ_Tài ngay sau khi ký hợp đồng, ông NĐ_Tài đã giao đủ tiền cho ông BĐ_Lân và chị LQ_Vy (con gái ông BĐ_Lân). Trước khi ký hợp đồng, ông NĐ_Tài có lên xem đất và có xác nhận của UBND xã MT về tình trạng đất không có tranh chấp. Do ông BĐ_Lân không làm thủ tục sang tên cho ông NĐ_Tài theo thỏa thuận nên ông NĐ_Tài khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng CNQSD đất nêu trên, ông BĐ_Lân phải trả cho ông số tiền 700.000.000đ đã nhận và bồi thường thiệt hại.