CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI CASELAW VIỆT NAM



Sắp xếp:

89/2016/KDTM: Tranh chấp tiền đặt cọc

  • 369
  • 45

Tranh chấp tiền đặt cọc

Sơ thẩm
30-09-2016
TAND cấp huyện

Nguyên đơn (Bên B) và bị đơn (A) có ký kết với nhau Hợp đồng mua bán hạt điều thô số VGC20152704/HĐMB/ĐT (viết tắt là Hợp đồng) ngày 27/4/2015 có nội dung: Bên A bán cho bên B số lượng 200 tấn hạt điều thô Nigeria, đơn giá 23.500.000 đồng/tấn, tổng giá trị hợp đồng là 4.700.000.000 đồng. Bên B đặt cọc cho bên A số tiền bằng 10% tổng giá trị hợp đồng. Bên A đồng ý hoàn trả 100% giá trị đặt cọc và bồi thường 100% giá trị đặt cọc nếu không thực hiện hợp đồng. Bên B đồng ý mất 100% giá trị đặt cọc nếu không thực hiện hợp đồng.

31/2014/KDTM-ST: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ tư vấn

  • 364
  • 35

Tranh chấp hợp đồng dịch vụ tư vấn

Sơ thẩm
10-09-2014
TAND cấp huyện

Tại đơn khởi kiện, các bản tự khai và các chứng từ kèm theo nguyên đơn NĐ_Công ty TNHH Lan Anh có bà Lê Bửu Phương Mai đại diện trình bày: Vào khoảng giữa năm 2011, được biết NĐ_Công ty TNHH Lan Anh (sau đây gọi tắt là nguyên đơn) muốn xin giấy phép khai thác cát tại nửa lòng sông ĐN (thuộc địa phận xã ĐL, huyện TP, tỉnh ĐN). Ông Trần Văn Nghĩa (là Tổng giám đốc đại diện cho BĐ_Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư Thương mại Phúc Châu (sau đây gọi tắt là bị đơn) đã đồng ý nhận gói dịch vụ tư vấn và thực hiện thủ tục pháp lý để nguyên đơn nhận được giấy phép khai thác cát do Sở Tài nguyên môi trường tỉnh ĐN cấp. Vào ngày 15/02/2012, nguyên đơn đã tự chuẩn bị và nộp hồ sơ “Xin cấp giấy phép khai thác cát xây dựng trên sông ĐN (thuộc địa phận xã ĐL, huyện TP, tỉnh ĐN) tại Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh ĐN.

Bản án/Quyết định số: 25/2011/KDTM-ST

  • 190
  • 17

Tranh chấp hợp đồng thuê nhà

Sơ thẩm
30-09-2011
TAND cấp huyện

Theo đơn khởi kiện ngày 30/3/2010 và những lời khai tại Tòa án nhân dân quận X, ông Trần Văn Trí (người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn) trình bày: Ngày 25 tháng 9 năm 2009, NĐ_Công ty TNHH An Khang (NĐ_An Khang) và BĐ_Công ty TNHH đầu tư phát triển sản xuất Vĩnh Hà (BĐ_Vĩnh Hà) đã ký kết Hợp đồng thuê văn phòng tại số 65 Phòng 5, Lầu 7 Toà nhà Saigon Center, đường LL, phường BN, quận X, thành phố HCM. Các bên đã thoả thuận diện tích thuê 123 m2, giá thuê là 40USD/m2, phí dịch vụ 6 USD/m2, thời hạn thuê là hai (02) năm, từ ngày 04/11/2009 đến ngày 3/11/2011. Trong thời gian thực hiện Hợp đồng, vào ngày 20/8/2010, BĐ_Vĩnh Hà có Văn bản số 118/CV.BIM.HCM thông báo đề nghị việc sẽ chấm dứt Hợp đồng từ ngày 01/10/2010. Ngày 27/8/2010 NĐ_An Khang đã có văn bản phản hồi không chấp thuận đề nghị của BĐ_Vĩnh Hà do Hợp đồng không có thoả thuận về việc chấm dứt trước thời hạn nên BĐ_Vĩnh Hà vẫn phải tiếp tục thực hiện theo các quyền và nghĩa vụ được nêu trong Hợp đồng.

Bản án/Quyết định số: 822/2015/LĐ-PT

  • 1348
  • 234

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (Người sử dụng lao động)

Phúc thẩm
08-07-2015
Lao động
TAND cấp tỉnh

Bị đơn BĐ_Công ty TNHH Dentsu Việt Nam (có ông Đạt đại diện theo ủy quyền) cho rằng việc chấm dứt hợp đồng lao động giữa nguyên đơn ông NĐ_Peter Ryan Sorge với BĐ_Công ty TNHH Dentsu Việt Nam vào tháng 10/2011, nguyên đơn khởi kiện BĐ_Công ty TNHH Dentsu Việt Nam tại Tòa án cấp sơ thẩm vào ngày 10/10/2012 là trước khi Bộ luật lao động 2012 có hiệu lực nên phải áp dụng Bộ luật lao động năm 1994 (sửa đổi bổ sung 2002, 2006 và 2007) làm cơ sở pháp lý để giải quyết vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Bộ luật lao động năm 2012 để giải quyết là không đúng.