TRA CỨU BẢN ÁN TRỰC TUYẾN & HỢP ĐỒNG MẪU

Thông tin về Vị trí nhà, đất có tranh chấp tại https://caselaw.vn/tra-cuu-tranh-chap-bat-dong-san được cung cấp bởi Caselaw Việt Nam được thu thập từ nguồn nội dung của các bản án mà Caselaw Việt nam cho rằng là đáng tin cậy và dựa trên cơ sở “thực tế và sẵn có”.

Các vị trí nhà, đất có tranh chấp có thể là: 1) Vị trí nhà, đất thuộc diện thi hành án; hoặc 2) Vị trí nhà, đất bị thế chấp và có khả năng bị ngân hàng phát mại; hoặc 3) Lược sử vị trí nhà, đất đã bị tranh chấp và có thể kéo dài tới hiện tại.

Mục đích duy nhất của các thông tin này là nhằm hạn chế rủi ro pháp lý trong các giao dịch bất động sản liên quan đến các vị trí nhà, đất được chỉ ra ở dưới đây. Mặc dù đã cố gắng hết sức, Caselaw Việt Nam không đảm bảo rằng các thông tin được cung cấp là chính xác hoàn toàn, trọn vẹn và có thể giúp Quý khách hàng loại bỏ các rủi ro pháp lý tuyệt đối.

Bất kỳ hình thức sử dụng thông tin nào cần được cân nhắc kỹ lưỡng, có sự tư vấn của luật sư và tuân thủ quy định pháp luật.

Chân thành cảm ơn!



Vị trí mới cập nhật

Nội dung tranh chấp tại: Diện tích 64,99m2 đất ở và tài sản gắn liền trên đất là căn nhà cấp 4 tọa lạc tại tổ 19, ấp Tân Thạnh, thị trấn Long Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang


Nguồn thông tin: Bản án/Quyết định số: 80/2012/DS-PT ngày 13/01/2012 của TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nội dung tóm lược:

Nguyên đơn: Bà Trương Thị Quới, sinh năm 1946 (có mặt).

Địa chỉ: tổ 19, ấp Tân Thạnh, thị trấn Long Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang,

Ủy quyền cho ông Luật sư Hứa Hoàng Chân - Đoàn luật sư tỉnh An Giang.

Bị đơn:

1. Bà Trương Thị Hồng, sinh năm 1958 (có mặt).

2. Ông Nguyễn Văn Tiền, sinh năm 1969 (có mặt).

Địa chỉ: tổ 19, ấp Tân Thạnh, thị trấn Long Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Người bảo vệ quyền lợi cho bị đơn có bà Luật sư Nguyễn Minh Lệ - Đoàn luật sư tỉnh An Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Trương Thị Quới, sinh năm 1946 (có mặt).

2. Bà Nguyễn Thị Quỳnh Mai, sinh năm 1975 (có mặt).

3. Bà Nguyễn Thị Thanh Bình, sinh năm 1973 (có mặt).

4. Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh, sinh năm 1977 (vắng mặt).

5. Bà Nguyễn Thị Cẩm Vân, sinh năm 1985 (có mặt).

Địa chỉ: tổ 19, ấp Tân Thạnh, thị trấn Long Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang.

NHẬN THẤY:

Theo đơn khởi kiện và biên bản hòa giải nguyên đơn bà Trương Thị Quới trình bày: Trước đây bà và gia đình đi Campuchia làm ăn có tiền nên bà về: Việt Nam thấy em một là Trương Thị Hồng nghèo khổ, hoàn cảnh kinh tế gặp khó khăn, không nhà ở mà sống ở dưới ghe neo đậu ở bên sông thuộc ấp 1, xã Khánh An (nay thuộc ấp Tân Thạnh, thị trấn Long Bình, huyện An Phú). Thấy vậy bà có mua cây cất nhà và sang nhượng đất để lại cho bà Hồng quản lý trông coi giùm nhưng bà Hồng và ông Tiền đã tự kê khai để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau:

Phần đất sang nhượng của ông Như, bà Điệp với giá 03 cây vàng 24kara, diện tích 1.660,40m2, phần đất này do Nguyễn Văn Tiền đứng tên quyền sử dụng đất số 01237/gL, thửa 23 cấp ngày 18/7/2002.

Phần đất sang nhượng của ông Hiền, bà Gương diện tích 8.682m2 với giá 08 cây 05 chỉ vàng 24kara (đất rẫy) do ông Nguyễn Văn Tiền đứng tên quyền sử dụng đất số 00458/gL cấp ngày 17/12/2007.

Phần đất của ông Phú tôi mua với số tiền 17.000.000 đồng, điện tích 282,3m2.

Riêng đối với quyền sử dụng đất số 01237/gL trong đó có 152,30m2 đất thổ cư, tờ bản đồ số 11, số thửa 32 là do tôi đưa vàng cho bà Hồng mua trực tiếp Với ông Bực nên tôi không yêu cầu phần này. Xác định yêu cầu bà Hồng, ông Tiền trả cho tôi 18.818m2 đất thổ cư và đất ruộng, 01 căn nhà ngang 6,6m X 9,6m dài, nhà gỗ thông, chò, cà chất, lợp tole, lót ván, nóng đá.

Bà Trương Thị Hồng, ông Nguyễn Văn Tiền không đồng ý trả lại tài sản trên như bà Quới yêu cầu. Bà cho rằng toàn bộ tài sản nhà và đất là của ông bà tạo ra bằng tiền và vàng của riêng ông bà, không liên quan tới bà Quới.

Phần ý kiến của các nhân chứng:

Ông Nguyễn Văn Hiền: Ông xác nhận là bà Trương Thị Quới là người trực tiếp đứng ra mua bán với ông chứ không phải là bà Hồng.Ông Nguyễn Văn Phú: Thừa nhận có bán một phần đất cho bà Trương Thị Quới với giá 17.000.000 đồng, lúc đó vợ chồng ông bị bệnh nên ông có hỏi xin thêm bà Quới 2.000.000 đồng, tổng cộng là 17.000.000 đồng. Ông không có bán cho bà Hồng, phần giấy tay ông ký với bà Hồng là do bà Quới trước đây không phải là người dân thường trú  địa phương nên nhờ bà Hồng đứng tên giùm thay cho bà Quới.

Bà Trương Thị Hai: Tôi là chị ruột của Quới, Hồng, tôi biết toàn bộ tài sản trên do em tôi Quới làm ăn có tiền về mua chứ trong thời gian này Hồng rất nghèo, không có tài sản.

Ông Nguyễn Văn Tẳng trình bày: Tôi là thợ cất nhà, căn nhà mà bà Quới, bà Hồng đang tranh chấp, khi cất nhà thì bà Quới kêu tôi cất và tôi cùng bà Quới sang Campuchia mua cây về, tôi đứng ra cất nhà và bà Quới trả tiền cho tôi, còn bà Hồng và ông Tiền không đứng ra cất nên diện tích căn nhà không biết là bao nhiêu.

Bà Trịnh Thị Dung trình bày: tôi là cháu ruột của bà Quới, bà Hồng, lúc đầu dì Hồng ở dưới ghe Tam bản nhỏ. Tôi thấy dì không nuôi cha mẹ già khổ quá tôi mới rủ dì Hồng lên Campuchia cùng tôi đổi bắp, không có tiền nên đổi bắp trả nợ vốn trả gối đầu, tôi biết rõ là dì Quới mua tài sản, dì Hồng không có khả năng.

Tại bản ảnh dân sự sơ thẩm số 04/2011/DS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2011 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang quyết định:

Áp dụng các điều 25, 34, 130, 131 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xử:

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Quới.

- Bà Trương Thị Quới được tiếp tục sở hữu, sử dụng:

Một phần căn nhà cấpa 4d, diện tích 6,7m X 9,7m = 64,99m2 khung cột gỗ (chò, thông, cà chất) nóng đúc ciment, sàn ván, mái tole. Nhà bếp ngang 2,2m X 6,7m dài = 14,74m2. Căn nhà gắn liền trên đất, tọa lạc tại ấp Tân Thạnh, thị trấn Long Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Diện tích 1.448,1m2 quyền sử dụng đất số 01237/gL cấp ngày 18/7/2002 do ông Nguyễn Văn Tiền đứng tên.

Diện tích 1.660,40m2 (còn lại 152,30m2 đất thổ cư giao lại cho bà Trương Thị Hồng và ông Nguyễn Văn Tiền).

Diện tích đất 282,3m2 quyền sử dụng đất số 01740/gL cấp ngày 09/9/2004 do bà Trương Thị Hồng đứng tên.

Bà Trương Thị Quới có nghĩa vụ giao trả cho bà Trương Thị Hồng, ông Nguyễn Văn Tiền số tiền 65.000.000 đồng (tương đương giá trị căn nhà).

- Bà Trương Thị Hồng, ông Nguyễn Văn Tiền được tiếp tục sử dụng:

Diện tích 152,30m2 đất thổ cư, tờ bản đồ số 11, số thửa 32 trong quyền sử dụng đất số 01237/gL cấp ngày 18/7/2002 do ông Nguyễn Văn Tiền đứng tên (còn lại 1.448,lm2 giao trả cho bà Quới).

Diện tích 8.558m2 quyền sử dụng đất số 00094/gL cấp ngày 18/7/2002 do ông Nguyễn Văn Tiền đứng tên.

Các đương sự, bà Trương Thị Quới, bà Trương Thị Hồng, ông Nguyễn Văn Tiền có nghĩa vụ đến cơ quan có thẩm quyền sang tên quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai.

Kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện An Phú:

Thu Hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01237/gL diện tích 1.660 m2 cấp ngày 18/7/2002 do ông Nguyễn Văn Tiền đứng tên cấp lại cho bà Trương Thị Quới 1.448,1m2, thửa số 23, tờ bản đồ số 12, cấp lại cho ông Nguyễn Văn Tiền diện tích 152,30m2, thửa số 32, tờ bản đồ số 11.

Thu Hồi quyền sử dụng đất số 00458/gL cấp ngày 17/12/2007 diện tích 8.682m2 do ông Nguyễn Văn Tiền đứng tên cấp lại cho bà Trương Thị Quới.

Thu Hồi quyền sử dụng đất số 01740/gL cấp ngày 09/9/2004 diện tích 282,3m2 do bà Trương Thị Hồng đứng tên cấp lại cho bà Trương Thị Quới.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về phần chi phí đo đạc, định giá, án phí, lãi suất thi hành án quá hạn chậm thi hành và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 21/3/2011, bị đơn bà Trương Thị Hồng và ông Nguyễn Văn Tiền có đơn kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm. Xin xét xử lại.

Ngày 31/3/2011, nguyên đơn bà Trương Thị Quới có đơn kháng cáo một phần nội dung bản án sơ thẩm, không đồng ý “giao cho bà Hồng và ông Tiền số tiền 64 triệu đồng để cất nhà khác và công nhận cho bà Hồng và ông Tiền được quyền sử dụng 8 công đất”.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bà Quới giữ nguyên yêu cầu kháng cáo không đồng ý trả 65 triệu đồng và yêu cầu xác định phần đất mua của bà Dúng là bà mua.

Bà Hồng yêu cầu Tòa xét lại 3 phần đất mà Tòa sơ thẩm buộc bà giao cho bà Quới là không đúng vì bà mua 3 thửa đất này có hồ sơ chuyển nhượng.

- Luật sư bảo vệ quyền lợi cho bà Hồng: Các cấp tòa đã xử nhiều lần, lúc đầu bà Quới kiện nhưng không nói được vị trí các thửa đất là ở đâu. Sau đó xảy ra tranh chấp, đánh đập và bà Hồng phải ra khỏi nhà. Khi bà Hồng nộp các giấy tờ đất thì lời khai của bà Quới mới rõ ràng. Về lai lịch của bà Quới không rõ ràng, về thủ tục tố tụng đã bỏ qua xác định nhân thân của bà Quới để xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật. Các lời khai của nhân chứng là chỉ nghe nói, chỉ có nhân chứng là ông Tùa xác nhận việc chuyển nhượng. Lời khai của ông Tẳng là con rể của bà Quới nên không khách quan, lời khai của bà Hai, bà Dung, bà Lệ cho rằng do bà Hồng nghèo nên không có tiền để mua là không có căn cứ. Các tài sản tranh chấp này do chuyển nhượng mà có không phải của cha mẹ để lại. Bà Quới không chứng minh được nghề nghiệp và thu thập của bà để có tiền gởi về mua. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Hồng.

- Ông Chân có tranh luận: Từ năm 1992 với tư cách Việt kiều có chứng nhận của hội người Việt Nam, Tòa sơ thẩm xác định bà Quới là Việt kiều có quốc tịch Việt Nam là đúng. Năm 1993 mẹ bà Quới chết do nghèo không có tiền nên nhờ từ thiện giúp, năm 1996 cha bà chết thì bà có về Việt Nam chôn cất cha, sau đó bà gởi tiền về mua đất. Việc ông Tùa đại diện chính quyền có lời khai thay đổi. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các nội dung xác nhận của ông Tùa. Ông Hiến xác nhận nhận vàng của bà Quới và đem bán để trả nợ, Tòa sơ thẩm chưa xác minh làm rõ ở hai tiệm vàng.

Ông Như có lời xác nhận lại là nhận vàng của 2 chị em bà Quới bà Hồng. Lời xác nhận của bà Lệ, ông Vân xác nhận bà Hồng nói giữ dùm đất cho bà Quới. Chính quyền địa phương xác nhận và dư luận quần chúng nhân dân tại địa phương đều xác nhận bà Quới gửi tiền về mua. Đề nghị Hội đồng xét xử xem lại chứng cứ buộc bà Quới trả 65 triệu đồng tiền cất nhà cho bà Hồng, vì có lời xác nhận của ông Tẳng là người cất nhà, có làm tân gia... không buộc bà Quới trả 65 triệu, còn về tiền công sức của bà Hồng thì xem xét lại, phần đất của bà Dúng đề nghị xem xét lại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao có kết luận: Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng trong xét xử, về nội dung vụ án Tòa sơ thẩm chưa làm rõ về các chứng cứ mà 2 bên cung cấp, lời khai nhân chứng mà 2 bên đưa ra mâu thuẫn nhau mà không cho đối chất, về phần đất có nhà: ông Như có nhiều tờ tường trình mâu thuẫn nhau lúc thì nói bà Hồng trả vàng, lúc thì bà Quới, nên cần cho đối chất làm rõ.

Về nhân thân bà Quới: Từ 1974 đến 1980 bà Quới khai có tên Võ Thị Dung đây là tình tiết mới chưa làm rõ, cấp sơ thẩm xác định bà Quới có quốc tịch Việt Nam là không đúng mà phải là cơ quan hộ tịch xác định bà Quới có quốc tịch Việt Nam hay là người gốc Việt có quốc tịch nước ngoài, đây là cơ sở để xác định thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc tòa cấp nào và điều luật áp dụng khi giải quyết tranh chấp. Do đó đề nghị hủy án sơ thẩm, giao Hồ sơ về Tòa sơ thẩm giải quyết lại.