TRA CỨU BẢN ÁN TRỰC TUYẾN & HỢP ĐỒNG MẪU

Thông tin về Vị trí nhà, đất có tranh chấp tại https://caselaw.vn/tra-cuu-tranh-chap-bat-dong-san được cung cấp bởi Caselaw Việt Nam được thu thập từ nguồn nội dung của các bản án mà Caselaw Việt nam cho rằng là đáng tin cậy và dựa trên cơ sở “thực tế và sẵn có”.

Các vị trí nhà, đất có tranh chấp có thể là: 1) Vị trí nhà, đất thuộc diện thi hành án; hoặc 2) Vị trí nhà, đất bị thế chấp và có khả năng bị ngân hàng phát mại; hoặc 3) Lược sử vị trí nhà, đất đã bị tranh chấp và có thể kéo dài tới hiện tại.

Mục đích duy nhất của các thông tin này là nhằm hạn chế rủi ro pháp lý trong các giao dịch bất động sản liên quan đến các vị trí nhà, đất được chỉ ra ở dưới đây. Mặc dù đã cố gắng hết sức, Caselaw Việt Nam không đảm bảo rằng các thông tin được cung cấp là chính xác hoàn toàn, trọn vẹn và có thể giúp Quý khách hàng loại bỏ các rủi ro pháp lý tuyệt đối.

Bất kỳ hình thức sử dụng thông tin nào cần được cân nhắc kỹ lưỡng, có sự tư vấn của luật sư và tuân thủ quy định pháp luật.

Chân thành cảm ơn!



Vị trí mới cập nhật

Nội dung tranh chấp tại: Thửa đất số 422 có diện tích trên giấy tờ là 1515m2 (diện tích đo thực tế là 1765,3 m2) và căn nhà trên đất (diện tích nhà chính 103 m2, trên lầu diện tích 103 m2, nhà phụ 88,4 m2, nhà kho 71,5 m2) thuộc tờ bản đồ số 2 tọa lạc tại số 4/1 tổ 4, ấp 11, thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An


Nguồn thông tin: Bản án/Quyết định số: 77/2012/DS-PT ngày 12/01/2012 của TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nội dung tóm lược:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc Minh, sinh năm 1951

Trú tại: 15908100 Avenue, Surrey, BC V4N 2B3, Canada

Địa chỉ tạm trú: số 53 Lê Lợi, Phường 1, Thành phố Tân An, tỉnh Long An (có mặt)

Có Luật sư: Nguyễn Hữu Thiệp (thuộc đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh) bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn (có mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Minh Khôi, sinh năm 1987

Địa chỉ: số 4/1 tổ 4, ấp 11, thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1.  Bà Tôn Thị Tuyết, sinh năm 1955

2.  Ông Nguyễn Minh Khoa, sinh năm 1989

Cùng địa chỉ: số 4/1 tổ 4, ấp 11, thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

Người đại điện theo ủy quyền của bà Tuyết và ông Khoa là ông Nguyễn Minh Khôi (có mặt)

3.  Bà Nguyễn Thị Hạnh, sinh năm 1942.

Địa chỉ số: số 4/4 tổ 4, ấp 11, thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.( có mặt)

4.  Ông Nguyễn Ngọc Quang, sinh năm 1948.

Trú tại: 1313N. Bewley Street, Apt A Santa Ana, California 92703 USA.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Quang là ông Nguyễn Ngọc Minh.

Địa chỉ tạm trú: số 53 Lê Lợi, Phường 1, Thành phố Tân An, tỉnh Long An (có mặt).

NHẬN THẤY:

Theo đơn khởi kiện ngày 17/06/2010, đơn bổ sung các đơn khởi kiện và các bảng tường trình, lời trình bày của ông Minh tại phiên hòa giải, tại Tòa sơ thẩm có nội dung khởi kiện như sau:

Cha ông là Nguyễn Văn Nguyện sinh năm 1913 (mất ngày 18/12/1994), mẹ ông là bà Trần Thị Nhung, sinh năm 1914, (mất ngày 12/06/2000). Cụ Nguyện, cụ Nhung có 05 người con chung gồm:

- Nguyễn Thị Hạnh, sinh năm 1942.

- Nguyễn Thị Thống (Phúc), sinh năm 1945, chết năm 2006, không có chồng, con.

- Nguyễn Ngọc Quang sinh năm 1948, năm 1996 xuất cảnh và định cư tại Hoa Kỳ.

- Nguyễn Ngọc Minh, sinh năm 1951, định cư ở Canada.

- Nguyễn Ngọc Khải, sinh năm 1953, chết ngày 25 tháng 03/2000, có 02 người con là Nguyễn Minh Khôi và Nguyễn Minh Khoa.

Năm 1956, cha ông là cụ Nguyện có mua 1,37 ha đất (có giấy tay được chính quyền chế độ cũ xác nhận) và ngôi nhà tọa lạc tại thửa đất số 422 tờ bản đồ số 2 thị trấn Thủ Thừa. Năm 1989 cụ Trần Thị Nhung thay mặt cụ Nguyện chia cho ba con là Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Thị Hạnh và Nguyễn Ngọc Khải mỗi người 3000m2 đất, phần diện tích đất còn lại là 4.740 m2 tại hai thửa 1125 và 422 cha, mẹ giữ lại cất nhà.

Năm 1996, ông,Nguyễn Ngọc Khải kê khai đăng ký đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng phần đất mẹ cho năm 1989 và cả hai thửa đất 1125 và 422, mẹ ông (cụ Nhung) và các anh chị trong gia đình không ai biết.

Sau khi ông Khải chết thì tháng 09/2006 con ông Khải là Nguyễn Minh Khôi làm thủ tục đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng các phần đất nêu trên theo diện được thừa kế của cha là ông Khải. Theo ông Minh được biết thì vào năm 1999, mẹ ông là cụ Nhung có nói miệng để phần đất tại hai thửa 422 và 1125 cho ông và ông Quang (năm 1989 ông chưa được cha, mẹ cho đất).

Ngày 26/3/2010, ông Nguyễn Ngọc Quang đã có văn bản cho ông được thừa hưởng phần thừa kế của ông Quang, văn bản này đã được hợp pháp hóa Lãnh Sự (do Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Hoa Kỳ xác nhận).

Nay ông Minh khởi kiện yêu cầu chia thừa kế căn nhà số 4/1 tổ 4, ấp 11, thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An làm bốn phần: cho ông (Minh), ông Quang, bà Hạnh và ông Khải (ông Khải chết có hai con nhận). Ông xin được nhận căn nhà để thờ cúng cha, mẹ và hoàn lại tiền cho các đồng thừa kế khác theo giá cơ quan chức năng đã định, nếu không được nhận nhà thì ông đồng ý nhận giá trị phần nhà được chia. Còn hai thửa đất số 1125, 422 (trừ diện tích có căn nhà), là phần của ông và ông Quang được mẹ cho nhưng ông được nhận hết, vì ông Quang đã cho ông phần của ông Quang toàn bộ nhà, đất mả ông và ông Quang được hưởng, ông tư nguyện cho lại bà Nguyễn Thị Hạnh quyền sở hữu, sử dụng.

Bà Nguyễn Thị Hạnh thống nhất với lời trình bày của ông Minh, bà không có yêu cầu nào khác.

Bà Tôn Thị Tuyết và ông Nguyễn Minh Khôi thống nhất lời trình bày của ông Minh, bà Hạnh về các vấn đề như cha mẹ, anh chị em ruột, nguồn gốc nhà đất là của cha mẹ.

Về yêu cầu của ông Minh đòi chia tài sản là nhà, đất thì bà Tuyết và ông Khôi trình bày: Căn nhà số 4/1 tổ 4, ấp 11, thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An của cụ Nguyện và cụ Nhung, từ năm 1996 khi ông Quang xuất cảnh, thì cụ Nhung chia nhà ra làm ba phần. Vợ chồng ông Khải, bà Tuyết cùng các con ở hai phần, còn 1/3 ngôi nhà bà Nhung và con gái là bà Thống ở việc phân chia nhà này có xây tường ngăn rõ ràng. Đến khi bà Nhung, bà Thống chết thí phần này để trống, khi nào ông Minh về nước thăm nhà thì ông Minh ở.

Nay trước yêu cầu khởi kiện củá ông Minh thì bà Tuyết, ông Khôi không đồng ý chia mà yêu cầu giữ nguyên hiện trạng đang ở vì mẹ (cụ Nhung) đã cho rồi. Còn phần đất tại hai thửa 1125 và 422 thì năm 1996, cụ Nhung đã cho ông Khải nên ông Khải đi kê khai đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bìa đỏ), vì vậy bà Tuyết và ông Khôi không đồng ý chia theo yêu cầu của ông Minh.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 04/2011/DS-ST ngày 22 và ngày 26 tháng 8 năm 2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã quyết định:

Căn cứ Điều 674, điểm a khoản 1 Điều 675, Điều 676, 677, 733, 734 Bộ Luật dân sự; Điều 106, khoản 1 Điều 136 Luật Đất Đai.

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu chia thừa kế của ông Nguyễn Ngọc Minh về yêu cầu chia di sản của cụ Trần Thị Nhung, không chấp nhận yêu cầu chia di sản của ông Nguyễn Ngọc Minh đối với phần di sản của cụ Nguyễn Văn Nguyện (đã hết thời hiệu chia thừa kế).

Công nhận sự tư nguyện tặng cho kỷ phần hưởng di sản của ông Nguyễn Ngọc Quang cho ông Nguyễn Ngọc Minh. Sự tư nguyện của ông Nguyễn Ngọc Minh tặng cho kỷ phần của ông Quang được hưởng và phần của ông Minh cho bà Nguyễn Thị Hạnh được hưởng. Công nhận sự tư nguyện của các đồng thừa kế để cây trồng trên đất cho bà Tôn Thị Tuyết được hưởng.

Bà Tôn Thị Tuyết, ông Nguyễn Minh Khôi, Nguyễn Minh Khoa được tiếp tục quản lý ½ ngôi nhà và một hồ nước tọa lạc tại thửa 422, tờ bản đồ số 2, thị trấn Thủ Thừa. Ông Nguyễn Minh Khôi, Nguyễn Minh Khoa được sở hữu chung ½ ngôi nhà còn lại và một hồ nước tọa lạc tại thửa 422, tờ bản đồ số 2, thị trấn Thủ Thừa. Ông Nguyễn Minh Khôi, Nguyễn Minh Khoa có nghĩa vụ thối hoàn lại ba kỷ phần được hưởng di sản cho bà Nguyễn Thị Hạnh là 253.125.600 đồng.

Bà Tôn Thị Tuyết, ông Nguyễn Minh Khôi, Nguyễn Minh Khoa tiếp tục được quản lý phần đất được ký hiệu A, tại thửa 422, tờ bản đồ số 2, thị trấn Thủ Thừa có diện tích 1.153,5 m, trừ 4,9m2 nhà mồ còn 1.149,1 m2 (theo trích đo bản đồ địa chính khu đất do Công ty TNHH đo đạc nhà đất Hưng Phú lập, Phòng Tài nguyên môi trường huyện Thủ Thừa duyệt ngày 23/07/2011).

Bà Nguyễn Thị Hạnh được hưởng di sản quyền sử dụng đất được ký hiệu B, tại thửa 422, tờ bản đồ số 2, có diện tích 611,8m2 trừ điện tích nhà mồ 11,6m2 còn 600,2m2 loại đất ở (theo trích đo bản đồ địa chính khu đất do Công ty TNHH đo đạc nhà đất Hưng Phú lập, Phòng Tài nguyên môi trường huyện Thủ Thừa duyệt ngày 23/07/2011).

Bà Nguyễn Thị Hạnh được hưởng di sản là quyền sử dụng đất ở thửa 1125, tờ bản đồ số 2, có diện tích 787 m2, loại đất có tứ cận:

- Tây giáp thửa 384, 423 dài 31m

- Đông giáp phần còn lại của thửa 1125 dài 24,1m

- Nam giáp đường ấp 11 (cặp sông Thủ Thừa) dài 27,1m.

- Bắc giáp thửa 383 dài 17,7m; 7,9m; 10,6m.

Ông Nguyễn Minh Khôi, Nguyễn Minh Khoa được hưởng di sản quyền sử dụng đất thửa 1125, tờ bản đồ so 2, có diện tích 462,5m2 có tứ cận:

- Tây tiếp giáp với phần đất chia cho bà Hạnh dài 24,1m.

- Đông giáp thửa 2284, 2262, dài 6,9m; 15,1m; 2,7m; 1m.

- Bắc giáp thửa 383 dài 47,4m.

- Nam giáp đường ấp 11 (cặp sông Thủ Thừa) dài 45,2m.

Bà Tôn Thị Tuyết, ông Nguyễn Minh Khôi, Nguyễn Minh Khoa tiếp tục được quản lý phần đất còn lại của thửa 1125, tờ bản đồ số 2, thị trấn Thủ Thừa, có diện tích 702,4m2 (theo trích đo bản đồ địa chính khu đất do Công ty TNHH đo đạc nhà đất Hưng Phú lập, Phòng tài nguyên môi trường huyện Thủ Thừa duyệt hgày 03/03/2011)

Tất cả những người hưởng di sản là quyền sử dụng đất sẽ được sở hữu cây trồng trên đất.

Buộc bà Nguyễn Thị Hạnh có nghĩa vụ hoàn thối lại cho bà Tôn Thị Tuyết 3.244.900 đồng tiền cây trồng trên đất.

Buộc ông Nguyễn Minh Khôi, Nguyễn Minh Khoa phải hoàn lại cho ông Nguyễn Ngọc Minh 30.000.000 đồng tiền sửa chữa nhà. Bà Tôn Thị Tuyết, ông Nguyễn Minh Khôi, Nguyễn Minh Khoa có nghĩa vụ giao các phần đất đã chia cho bà Nguyễn Thị Hạnh nói trên để bà quản lý, sử dụng.

Các đương sự đều có quyền kê khai, đăng ký lại quyền sử dụng đất với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của Luật đất đai.

Ông Nguyễn Ngọc Minh, Nguyễn Ngọc Quang, bà Nguyễn Thị Hạnh mỗi người phải chịu 3.370.000 đồng chi phí đo đạc định giá, ông Nguyễn Minh Khôi, Nguyễn Minh Khoa phải chịu 3.370.000 đồng chi phí đo đạc định giá, số tiền này ông Minh đã ứng chi nên ông Quang, bà Hạnh, ông Khôi mỗi người phải hoàn cho ông Minh 3.370.000 đồng.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về phần chi phí đo đạc, thẩm định giá, án phí, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 05/09/2010, ông Nguyễn Ngọc Minh có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ông Nguyễn Ngọc Minh vẫn giữ yêu cầu kháng cáo: Chia căn nhà do cha, mẹ để lại làm 4 phần bằng nhau, phía anh, em bị đơn (con ông Nguyễn Ngọc Khải được hưởng một phần), còn diện tích đất tại hai thửa 1125 và 422 (sau khi trừ diện tích căn nhà) là của ông Minh và ông Quang được quyền sử dụng vì mẹ các ông đã có di chúc miệng để lại cho hai ông. Ông Quang cho ông Minh phần của ông Quang nên ông Minh được sử dụng toàn bộ hai thửa đất đã nêu. Bà Tuyết và hai con sở hữu cây trồng trên đất thì phải hoàn lại tiền. Nếu bà Tuyết không yêu cầu bà Hạnh trả lại tiền giá trị cây trên đất thì coi như cây trồng có trên đất bên nào được chia bên đó sở hữu, không phải hoàn lại tiền cho nhau.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho phía nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của phía nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm.

Ông Nguyễn Minh Khôi (vừa là bị đơn vừa là người đại diện cho bà Tuyết và ông Khoa) không kháng cáo xin y án sơ thẩm. Đồng ý theo yêu cầu của ông Minh và bà Hạnh là cây trồng trên đất bên nào được chia thì bên đó sở hữu, không phải hoàn lại tiền giá trị cây trồng cho nhau, phía bà Tuyết không yêu cầu bà Hạnh phải hoàn trả tiền giá trị cây trồng như bản án sơ thẩm đã tuyên.

Bà Nguyễn Thị Hạnh xác định không kháng cáo nhưng đồng ý theo ý kiến của ông Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn vì vụ án có nhân tố nước ngoài, theo khoản 2 điều 39 Nghị quyết 1037 ngày 17/7/2006 của Ửy Ban Thường vụ Quốc Hội thì thời hiệu khởi kiện chia thừa kế phần di sản của cụ Nguyện vẫn còn. Do đó đề nghị sửa bản án sơ thẩm: Di sản của cụ Nguyện và cụ Nhung chia đều cho các đồng thừa kế.