TRA CỨU BẢN ÁN TRỰC TUYẾN & HỢP ĐỒNG MẪU

Thông tin về Vị trí nhà, đất có tranh chấp tại https://caselaw.vn/tra-cuu-tranh-chap-bat-dong-san được cung cấp bởi Caselaw Việt Nam được thu thập từ nguồn nội dung của các bản án mà Caselaw Việt nam cho rằng là đáng tin cậy và dựa trên cơ sở “thực tế và sẵn có”.

Các vị trí nhà, đất có tranh chấp có thể là: 1) Vị trí nhà, đất thuộc diện thi hành án; hoặc 2) Vị trí nhà, đất bị thế chấp và có khả năng bị ngân hàng phát mại; hoặc 3) Lược sử vị trí nhà, đất đã bị tranh chấp và có thể kéo dài tới hiện tại.

Mục đích duy nhất của các thông tin này là nhằm hạn chế rủi ro pháp lý trong các giao dịch bất động sản liên quan đến các vị trí nhà, đất được chỉ ra ở dưới đây. Mặc dù đã cố gắng hết sức, Caselaw Việt Nam không đảm bảo rằng các thông tin được cung cấp là chính xác hoàn toàn, trọn vẹn và có thể giúp Quý khách hàng loại bỏ các rủi ro pháp lý tuyệt đối.

Bất kỳ hình thức sử dụng thông tin nào cần được cân nhắc kỹ lưỡng, có sự tư vấn của luật sư và tuân thủ quy định pháp luật.

Chân thành cảm ơn!



Vị trí mới cập nhật

Nội dung tranh chấp tại: Diện tích là 20.262m2 đất thuộc thửa 40, 40-a, 40-b, tờ bản đồ số 4 tọa lạc tại ấp Nguyễn Văn Hanh, xã Mỹ Thuận, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang


Nguồn thông tin: Bản án/Quyết định số: 11/2012/HNGĐ-PT ngày 24/04/2012 của TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nội dung tóm lược:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim Ngọc, sinh năm 1968.

Địa chỉ: 209 Cách Mạng Tháng Tám; phưòng Vĩnh Lợi; Tp. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị Kim Ngọc: Luật sư Nguyễn Trần Thụy Quyên – Đoàn luật sư tỉnh Kiên Giang (có mặt).

Bị đơn: Ông Phan Văn Diệu, sinh năm 1964.

Địa chỉ: ấp Nguyễn Văn Hanh, xã Mỹ Thuận, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Phan Văn Diệu: Luật sư Bùi Hồng Điệp - Đoàn Luật sư tỉnh Kiên Giang (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị Tuyết, sinh năm 1947.

Địa chỉ: 20400 SW Martinazzi Ave, Tualatin, OR 97062.

2. Ông Lê Văn Dững, sinh năm 1967. (có mặt).

3. Bà Võ Thị Phượng, sinh năm 1973. (có mặt).

Địa chỉ: ấp Sơn Thuận, xã Mỹ Thuận, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

4. Bà Trần Thị Hồng Hạnh, sinh năm 1965.

Địa chỉ: ấp Nguyễn Văn Hanh, xã Mỹ Thuận, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang, (có mặt).

5. Ông Tô Thanh Kề, sinh năm 1966.

Địa chỉ: ấp Nguyễn Văn Hanh, xã Mỹ Thuận, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang (có mặt).

 

NHẬN THẤY:

Bà Nguyễn Thị Kim Ngọc trình bày:

Bà Ngọc và ông Phan Văn Diệu chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1992 không có đăng ký kết hôn, quá trình chung sống bà và ông Diệu có 03 người con (trong đó có 01 người con nuôi):

1.  Phan Thái Sơn, sinh năm 1992 (con nuôi);

2.  Phan Thái Trạng, sinh năm 1995;

3.  Phan Thị Thùy Nữ, sinh năm 1997.

Khi vợ chồng mới cưới nhau sống chung với cha mẹ chồng ở An Giang, năm 2000 vợ chồng ra ở riêng về sống tại Rạch Sỏi, năm 2006 vợ chồng ly thân đến nay, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do hai người thường xuyên cự cãi, bà Ngọc xét thấy đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu ly hôn với ông Diệu,

Về con chung: Bà Ngọc xin được nuôi 2 con chung là Thái Trạng và Thùy Nữ, yêu cầu ông Diệu cấp dưỡng mỗi cháu mỗi tháng 500.000 đồng.

Về tài sản chung: Bà Ngọc xác định không có, toàn bộ tài sản bà Ngọc đứng tên, đều đứng tên giùm mẹ bà Ngọc là bà Nguyễn Thị Tuyết, đang định cư ở nước ngoài và bà Tuyết đã đồng ý cho riêng bà Ngọc.

Về nợ chung: Bà Ngọc xác định tiền cầm cố đất cho bà Trần Thị Hồng Hạnh 100.000.000 đồng (trước kia cầm cố đất cho ông Chín Văn sau đó chuyển sang cho bà Hạnh), nợ vợ chồng bà Phượng 57.000.000 đồng. Trong đó, 50.000.000 đồng mượn để trả nợ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Mỹ Lâm do vợ chồng vay, còn 7.000.000 đồng bà Ngọc vay để trị bệnh nên bà tự trả. Bà Ngọc yêu cầu ông Diệu trả ½ số nợ là 753.300.000 đồng.

Ông Phan Văn Diệu trình bày:

Quá trình chung sống như bà Ngọc trình bày. Nhưng nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do bà Ngọc có người đàn ông khác. Do đó, ông đồng ý ly hôn với bà Ngọc.

Về con chung: Đồng ý để bà Ngọc nuôi, ông không đồng ý cấp dưỡng theo yêu cầu của bà Ngọc, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về tài sản: ông Diệu xác định tài sản chung của vợ chồng gồm các thửa 40-a, 40-b; 40, tổng diện tích là 20.262m2 và thửa số 19 diện tích theo giấy chứng nhận là 10.674m2 theo đo đạc thực tế là 10.959,4m2, tọa lạc tại ấp Nguyễn Văn Hanh, xã Mỹ Thuận, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Nguồn gốc các thửa đất trên như sau: lúc đầu mua 2,2 hecta của ông Mỹ năm 2002 với giá 08 chỉ vàng một công; năm 2004 mua 01 hecta đất còn lại của ông Sáu Em với giá 1,2 lượng vàng một công. Việc mua các thửa đất trên do ông Diệu và bà Ngọc trực tiếp đi mua và trả tiền. Ông Diệu cho rằng trước khi mua đất vài năm ông Diệu có bán đất ở An Giang 3 hecta được 09 lượng vàng 24k, đưa hết vàng cho bà Ngọc. Ông Diệu xác định tiền mua đất là tiền chung của vợ chồng, ông yêu cầu chia cho ông toàn bộ các thửa đất nêu trên. Ngoài ra còn nhiều tài sản khác ông không yêu cầu.

Về nợ chung: Ông Diệu chỉ thừa nhận tiền cầm cố đất cho ông Chín Văn nay chuyển sang cho bà Hạnh là 60.000.000 đồng, ông Diệu đồng ý trả 30.000.000 đồng. Còn khoản tiền vay Ngân hàng ông Diệu xác định trả bằng tiền của vợ chồng làm lúa và trả khi hết hợp đồng, không phải trả trước hạn như bà Ngọc nói và không phải vay của bà Phượng, ông không đồng ý trả.

- Bà Nguyễn Thị Tuyết có văn bản trình bày: hai miếng đất ở ấp Nguyễn Văn Hanh, xã Mỹ Thụận, huyện Hòn Đất, miếng thứ nhất có diện tích 2,2 hecta do bà điện thoại nhờ vợ chồng bà Phượng mua giùm, sau khi giá cả xong bà gửi tiền về cho bà Ngọc thanh toán, miếng đất thứ hai có diện tích 1,2 hecta do bà điện thoại về mua của chị họ tên Hồng Hạnh, giá cả xong bà gửi tiền về cho bà Ngọc trả. Tất cả tài sản gồm: 1 nhà, hai miếng đất ruộng, 1 máy xăng, 1 máy dầu và 1 chiếc xuồng máy do bà gửi tiền về mua. Hiện nay, tất cả tài sản này bà đồng ý cho riêng con gái tên Nguyễn Thị Kim Ngọc, bà xin xét xử vắng mặt.

- Bà Võ Thị Phượng, ông Lê Văn Dững có yêu cầu độc lập trình bày:

Vợ chồng bà Phượng có cho bà Ngọc mượn 50.000.000 đồng. Năm 2006, để trả Ngân hàng và 7.000.000 đồng bà Ngọc mượn chữa bệnh, số tiền này vợ chồng bà Phượng cho bà Ngọc mượn ông Diệu không biết, vợ chồng bà Phượng yêu cầu bà Ngọc, Ông Diệu trả cho bà 50.000.000 đồng. Riêng bà Ngọc trả cho bà 7.000.000 và trả lãi theo quy định của pháp luật.

- Bà Trần Thị Hồng Hạnh trình bày: từ năm 2009, ông Nguyễn Thanh Văn nhận cầm cố phần đất ruộng thửa số 19 diện tích 10.996m2 của bà Ngọc đầu năm 2010 các bên thỏa thuận giao lại cho bà Hạnh cầm cố lại phần đất này với giá 60.000.000 đồng. Sau đó, bà Ngọc mượn thêm 40.000.000 đồng, tổng cộng 100.000.000 đồng trong thời hạn 3 năm, đến năm 2012 hét hạn, nay vợ chồng bà Ngọc ly hôn, nếu đòi lại đất thì hoàn trả cho bà 100.000.000 đồng.

Thửa đất số 19 có nguồn gốc trước kia là của bà, sau đó bà chuyển nhượng lại cho bà Tuyết, bà Tuyết thống nhất để bà Ngọc đứng tên quyền sử dụng đất.

- Ông Tô Thanh Kề trình bày: ông có thuê diện tích đất 7 công tầm cắt (khoảng 1.300 m2/công) loại đất trồng lúa của ông Diệu với giá 15.000.000 đồng, thời hạn thuê 01 năm từ vụ hè thu năm 2011 đến vụ đông xuân đến cuối tháng 3 năm 2012 là hết hạn hợp đồng thì ông trả đất, ông có đơn xin xét xử vắng mặt về yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại bản án hôn nhân và gia đình số 26/2011/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 12 năm 2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, quyết định:

1. Về quan hệ hôn nhân: không công nhận bà Nguyễn Thị Kim Ngọc và ông Phan Văn Diệu là vợ chồng.

2. Về con chung: giao cháu Phan Thái Trạng, sinh ngày 21/3/1995 và Phan Thị Thùy Nữ, sinh ngày 06/6/1997 cho bà Ngọc nuôi dưỡng, ông Diệu có nghĩa vụ cấp dưỡng mỗi tháng mỗi cháu là 500.000 đồng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Ông Diệu có quyền tới lui thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung.

3. Về tài sản:

Công nhận tài sản chung của bà Ngọc, ông Diệu là giá trị căn nhà và cây trồng trên đất là 89.703.000 đồng. Do đất và nhà giao cho bà Ngọc sử dụng nên bà Ngọc có nghĩa vụ hoàn ½ giá trị tài sản trên đất theo kết quả định giá ngày 15/11/2010 của Công ty cổ phần bất động sản Kiên Giang bằng 44.851.500 đồng cho ông Diệu khi án có hiệu lực pháp luật.

Công nhận các thửa đất do bà Ngọc đứng tên là tài sản riêng của bà Ngọc gồm: thửa đất 40-a; 40-b; 40 tờ bản đồ số 04, diện tích 20.262m2; thửa số 19, tờ bản đồ số 04, diện tích theo giấy chứng nhận là 10.674m2 theo đo đạc thực tế là 10.959,4m2, tọa lạc tại ấp Nguyễn Văn Hanh, xã Mỹ Thuận, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang, theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất ngày 26/8/2010.

Buộc ông Diệu giao trả thửa đất 40-a; 40-b; 40, tờ bản đồ số 04, diện tỉch 20.262m2 và căn nhà cùng toàn bộ cây trồng trên thửa đất 40-a ông đang quản lý sử dụng cho bà Ngọc khi án có hiệu lực pháp luật, theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất ngày 26/8/2010.

4. Về nợ: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Ngọc có nghĩa vụ trả cho vợ chồng bà Võ Thị Phượng, ông Lê Văn Dững số tiền 57.000.000 đồng khi án có hiệu lực pháp luật.

Đình chi giải quyết đối với vêu cầu của bà Võ Thị Phượng, ông Lê Văn Dững đối với bà Nguyễn Thị Tuyết về số nợ 70.000.000 đồng.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Ngọc có nghĩa vụ trả tiền chuộc đất cầm cố cho bà Trần Thị Hồng Hạnh khi đến thời hạn là 100.000.000 đồng, tự thỏa thuận giải quyết với ông Tô Thanh Kề khi hết hạn hợp đồng.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 11/01/2012, bị đơn ông Phan Văn Diệu làm đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm yêu cầu xét xử lại với lý do:

+ Về con chung: các cháu Phan Thái Trạng và Phan Thị Thùy Nữ đang trong độ tuổi vị thành niên. Trong quá trình thu thập chứng cứ, cấp sơ thẩm không lấy lời khai, hỏi ý kiến xem các cháu muốn ở với cha hay mẹ. Như vậy, cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

+ Về tài sản chung bao gồm: căn nhà số 290 đường Cách Mạng Tháng Tám, p. Vĩnh Lợi, Tp. Rạch Giá; đất nông nghiệp thuộc thửa 40-a, 40-b, 40 có công trình và tài sản trên đất, diện tích 20.262m2 tại ấp Nguyễn Văn Hanh, xã Mỹ Thuận, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang; đất nông nghiệp thuộc thửa 19 tờ bản đồ số 04 tại ấp Nguyễn Văn Hanh, xã Mỹ Thuận, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giáng. Tất cả là tài sản được tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ, chồng nên yêu cầu được chia đôi.

Trước tòa, luật sư trình bày nội dung kháng cáo của bị đơn: Ông Diệu yêu cầu nuôi 2 con, yêu cầu chia tài sản vì được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân, hiện nay ông Diệu đang nuôi cá, đề nghị định giá đất đã cải tạo làm ao, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Ông Diệu bổ sung nếu Tòa không chấp nhận cho ông nuôi con thì ông không đồng ý cấp dưỡng mỗi người con 500.000 đồng, yêu cầu xem xét tài sản vì trước đây ông bán đất riêng được 09 lượng vàng bỏ ra mua đất, ông không biết việc bà Tuyết bỏ tiền ra mua đất như bà Ngọc trình bày.

Bà Ngọc trình bày: bà không đồng ý yêu cầu của ông Diệu vì các con hiện nay đang sống với bà, đã có văn bản đề nghị sống với mẹ nếu cha mẹ ly hôn. Về tài sản bà không nhận của ông Diệu 09 lượng vàng để mua đất vì không có. Vì gia đình ông Diệu rất nghèo, lúc 2 vợ chồng khổ ông Diệu còn bán phần nền nhà được Nhà nước cho 40.000.000 đồng để cho con nuôi 20.000.000 đồng cưới vợ, còn lại ông Diệu sử dụng, bà không lấy phần tiền này, còn phần đất ông Diệu đang tranh chấp do bà đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là của mẹ bà bỏ tiền ra mua nhờ bà đứng tên dùm, hiện nay bà đã được mẹ bà cho riêng toàn bộ đất, nhà yêu cầu ông Diệu phải trả lại.

Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: Tòa sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng vì không triệu tập 2 người con của ông Diệu bà Ngọc lên Tòa để hỏi ý kiến đồng ý sống với ai vì cả 2 đã hơn 9 tuổi, về tài sản yêu cầu xem xét lại vì tài sản đang tranh chấp mua trong thời kỳ hôn nhân, Tòa thụ lý trước khi hòa giải tại địa phương là vi phạm nên ý kiến của ông Diệu khai tại tòa sơ thẩm xác định tiền của mẹ bà Ngọc bỏ ra mua cho 2 vợ chồng là không có hiệu lực, cần lấy ý kiến của ông Diệu tại biên bản hòa giải tại địa phương. Ông Diệu yêu cầu đưa căn nhà 209 đường Cách Mạng Tháng Tám chia nhưng Tòa sơ thẩm không đưa vào chia mà tách ra là thiếu sót. Ông Diệu cũng đã đào ao và hiện nay nuôi cá mà không định giá, đề nghị Hội đồng xét xử hủy án sơ thẩm.

Luật sư bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bà Ngọc trình bày: Tòa sơ thẩm không vi phạm thủ tục tố tụng: lúc đầu 2 đương sự chỉ xin giải quyết mối quan hệ hôn nhân và con cái nên tòa thụ lý vụ án, nhưng khi lấy lời khai thì ông Diệu yêu cầu chia tài sản của mẹ bà Ngọc nên Tòa sơ thẩm chuyển về địa phương hòa giải là đúng quy định, về việc nuôi con các con của ông Diệu, bà Ngọc đều có văn bản đề nghị nếu cha mẹ ly hôn thì xin ở với mẹ, vì vậy không cần thiết phải triệu tập các con của 2 đương sự lên Tòa, nhằm tránh ảnh hưởng đến tâm lý của con các đương sự là không sai, về tài sản ông Diệu khai tài sản mua được là do mẹ bà Ngọc gởi tiền về cho hai vợ chồng nhưng mẹ bà Ngọc, bà Ngọc không thừa nhận cho chung 2 vợ chồng nên không có căn cứ để chấp nhận ý Mến của ông Diệu, đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu của ông Diệu. Riêng căn nhà 209 ông Diệu đã có lời khai không yêu cầu, nhưng tại tòa sơ thẩm mới yêu cầu, tòa sơ thẩm tách ra là phù hợp với quy định của pháp luật, ông Diệu có quyền khởi kiện, nếu có căn cứ cho rằng căn nhà 209 là của ông với bà Ngọc tạo dựng. Tòa sơ thẩm xét xử có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm tuân thủ đúng theo trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: bịđơn kháng cáo yêu cầu được nuôi 2 con. Luật sư và bị đơn cho rằng tại tòa sơ thẩm không hỏi ý kiến của các con là vi phạm tố tụng là không được chấp nhận vì Tòa sơ thẩm đã xác định các con của ông Diệu và bà Ngọc đều đề nghị ở chung với mẹ (BL 22, 35) nên đã qqyết định giao 2 con chung cho bà Ngọc nuôi dưỡng là có căn cứ. Kháng cáo của ông Diệu là không được chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm phần nuôi con.

Về yêu cầu chia tài sản: ông Diệu khai được bà Tuyết gửi tiền về cho cả ông Diệu bà Ngọc để mua đất. Trong quá trình thu thập chứng cứ tại Tòa án cấp sơ thẩm cũng như tại phiên tòa hôm nay ông Diệu đều không chứng minh được việc bà Tuyết cho chung 2 người, không có căn cứ để chấp nhận.

Luật sư trình bày đề nghị Hội đồng xét xử xem xét Tòa sơ thẩm vi phạm vì thụ lý trước khi địa phương hòa giải. Xét đề nghị này cũng không có căn cứ vì ngay từ đầu bà Ngọc yêu cầu ly hôn, Tòa sơ thẩm thụ lý giải quyết là đúng, quá trình giải quyết ông Diệu khai có tài sản nên Tòa sơ thẩm chuyển về địa phương hòa giải là làm đúng trình tự quy định của pháp luật, luật sư cũng chứng minh nhiều về việc tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng, nhưng ông Diệu không chứng minh được tiền của ông bỏ ra cùng mua với bà Ngọc nên không có căn cứ để chấp nhận, Riêng ông Diệu yêu cầu đưa căn nhà 209 vào chia tòa sơ thẩm tách ra vì tại tòa sơ thẩm ông Diệu mới yêu cầu, trong quá trình thu thập chứng cứ ông Diệu đã có lời khai không yêu cầu xem xét căn nhà 209, nếu có yêu cầu thì khởi kiện bằng một vụ án khác, Tòa sơ thẩm tách ra cũng không sai. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.