cơ sở dữ liệu pháp lý



Sắp xếp:

31/2009/HNGĐ-PT Phúc thẩm Dân sự - Hôn nhân gia đình - Đất đai - Thừa kế

  • 993
  • 7

Ly hôn

28-09-2009
TAND cấp tỉnh

Anh NĐ_Võ Thanh Phi trình bày: Anh và chị BĐ_Lê Thị Thùy được hai gia đình tổ chức cưới vào năm 1999, không có đăng ký kết hôn và đến tháng 5/2007 anh và chị BĐ_Thùy ly thân cho đến nay. Nguyên nhân là sau khi cưới về sống chung với gia đình anh, chị BĐ_Thùy thường hay bỏ về nhà cha mẹ ruột, khi cưới chị BĐ_Thùy, cha mẹ anh là ông LQ_Võ Tấn Hồng - bà LQ_Nguyễn Thị Si cho 10 chỉ vàng 24K do chị BĐ_Thùy giữ, đến năm 2006 cha mẹ anh cất nhà cho ra ở riêng ở khu dân cư chợ Phú Điền và cha mẹ anh có cho 05 công đất ruộng, năm 2007 làm ruộng bán được 18.700.000đ, sau khi bán lúa chị BĐ_Thùy bỏ nhà đi và mang theo số tiền bán lúa, anh và chị BĐ_Thùy có một nền nhà ở chợ Phú Điền do anh đứng tên.


808/2013/HNGĐ-ST Sơ thẩm Dân sự - Hôn nhân gia đình - Đất đai - Thừa kế

  • 952
  • 20

Ly hôn

13-09-2013
TAND cấp huyện

Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai nộp Tòa án ngày 27 tháng 5 năm 2013, biên bản về việc không tiến hành hòa giải được ngày 29 tháng 7 năm 2013 và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là bà NĐ_Trần Thị Thanh Hà trình bày: Bà và ông BĐ_Nguyễn Tấn Đạt tự nguyện sống chung như vợ chồng từ năm 2002, do cuộc sống khó khăn và do không am hiểu về pháp luật nên vợ chồng đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2011 nguyên do sau khi cha chồng chết, ông BĐ_Đạt thường nhậu nhẹt, bài bạc thâu đêm suốt sáng và nợ nần chồng chất. Do không chịu đựng được nên bà đã bỏ về nhà cha mẹ ruột và ở cho đến nay. Nhận thấy vợ chồng không thể chung sống với nhau được nữa và tình cảm của bà đối với ông BĐ_Đạt cũng không còn nên bà khởi kiện yêu cầu được ly hôn.


388/2009/DS-GĐT Giám đốc thẩm Dân sự - Hôn nhân gia đình - Đất đai - Thừa kế

  • 1767
  • 34

Ly hôn

20-08-2009

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 31/10/2006 và các lời khai trong quá trình tố tụng, ông Charles Trần Hoàng khai như sau: Năm 2000 ông Hoàng từ Mỹ về Việt Nam có quen biết bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết và chung sống với nhau như vợ chồng, không đăng ký kết hôn, cuộc sống chung không hạnh phúc do nguyên nhân chênh lệch quá nhiều về tuổi tác, trình độ nhận thức, quan điểm, tính tình không hoà hợp; khi bà Tuyết mang thai đòi phá thai, ông Hoàng không muốn mà muốn bà Tuyết sinh con; bà Tuyết không muốn cùng ông xây dựng gia đình hạnh phúc, bà Tuyết lợi dụng việc đứng tên tài sản giúp ông nên bà Tuyết đã tự ý vay nợ làm tổn thất quá nhiều tài chính buộc ông phải gánh trả. Sự việc diễn ra ông lựa lời góp ý động viên nhưng bà Tuyết không sửa được. Năm 2004 vợ chồng tự sống ly thân. Nay xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên ông xin được ly hôn.


21/2009/DS-GĐT Giám đốc thẩm Dân sự - Hôn nhân gia đình - Đất đai - Thừa kế

  • 787
  • 13

Ly hôn

31-07-2009

Theo đơn khởi kiện ngày 01/10/2004 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là ông Huỳnh Thế Vinh trình bày: ông là Việt Kiều từ Mỹ về nước và có chung sống như vợ chồng với Nguyễn Thị Trang từ năm (1993) nhưng không đăng ký kết hôn; quá trình chung sống, ông và bà Trang có 03 người con chung là cháu Nguyễn Huỳnh Gia Bảo sinh ngày: 24/4/1996, cháu Nguyễn Huỳnh Gia Phúc và cháu Nguyễn Huỳnh Gia Lộc song sinh ngày: 13/3/1997. Do mâu thuẫn trầm trọng trong cuộc sống, nên ông Vinh đề nghị Tòa án giải quyết về quan hệ hôn nhân, về tài sản chung và nợ chung giữa ông và bà Trang, về con chung ông Vinh đồng ý để bà Trang nuôi dưỡng, ông sẽ cấp dưỡng nuôi con.


11/2012/HNGĐ-PT Phúc thẩm Dân sự - Hôn nhân gia đình - Đất đai - Thừa kế

  • 1648
  • 41

Ly hôn

24-04-2012
Tòa phúc thẩm TANDTC