CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI CASELAW VIỆT NAM


306/2016/DS-PT: Đòi lại tài sản

  • 125
  • 24

Đòi lại tài sản

Phúc thẩm
15-12-2016

Tại đơn khởi kiện ngày 12/9/2009 và các bản khai bổ sung nguyên đơn NĐ_Trần Thị Hương Hà trình bày: Sau thời gian tìm hiểu nhau, bà NĐ_Hà và ông BĐ_Trần Vân Thành làm lễ đính hôn. Ông BĐ_Thành tiến hành xây dựng nhà tại số 70T/6, ấp Thanh Mỹ 1, xã TĐ, huyện LH do ông LQ_Quách Ý đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi khởi công xây dựng nhà được một thời gian thì ông BĐ_Thành phải trở về Hoa Kỳ nên ông BĐ_Thành giao lại việc quản lý xây dựng nhà cho bà NĐ_Hà trông coi. Khi quản lý xây dựng nhà, bà NĐ_Hà có nhận của ông BĐ_Thành 100.000.000đ, nhận của ông Phương (anh của ông BĐ_Thành) 140.000.000đ và 37.000USD, nhận 150.000.000đ của ông Bình nhận 18.500USD của bà NĐ_Hà ở thành phố HCM. Ngoài ra, khi ông BĐ_Thành về Hoa Kỳ có gởi cho bà NĐ_Hà 14.000USD, trong đó bà NĐ_Hà có nhận 11.500USD ông LQ_Hải nhận 2.500USD để xây dựng nhà.

293/2016/DS-PT: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • 130
  • 20

Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Phúc thẩm
30-11-2016

Vào năm 2010, ông NĐ_Phan Trọng Tấn cho vợ chồng ông BĐ_Nguyễn Văn Lâm, bà BĐ_Nguyễn Thị Huệ vay tiền, giao nhận nhiều lần, Tổng số tiền là 1.320.000.000 trả lại cho ông NĐ_Tấn. Nay ông NĐ_Tấn yêu cầu ông BĐ_Lâm - bà BĐ_Huệ phải trả cho ông số tiền vốn tổng cộng là 1.320.000.000 đồng và 16.000 USD. Ngoài ra, ông NĐ_Tấn còn yêu cầu ông BĐ_Lâm - bà BĐ_Huệ phải trả tiền lãi của số tiền 1.320.000.000 đồng, thời hạn tính lãi từ ngày 01/12/2010 đến ngày Toà án đưa vụ kiện ra xét xử, số tiền lãi tạm tính như sau: 1.320.000.000 đồng x 0,75%/tháng x 40 tháng (từ ngày 01/12/2010 đến ngày 01/04/2015)=396.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền vốn và tiền lãi đến ngày làm đơn (tháng 04/2015) là 1.716.000.000 đồng và 16.000 USD, yêu cầu ông BĐ_Lâm, bà BĐ_Huệ trả làm một lần khi án có hiệu lực pháp luật.

283/2016/DS-PT: Tranh chấp quyền sử dụng đất

  • 251
  • 18

Tranh chấp quyền sử dụng đất

Phúc thẩm
24-11-2016

Chấp nhận kháng cáo của bà BĐ_Trần Thị Ánh Tâm; hủy bản án dân sự sơ thẩm số 617/2015/DSST ngày 26/06/2015 của Tòa án nhân dân thành phố HCM. Chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thành phố HCM giải quyết lại vụ án. 2/ Về án phí dân sự phúc thẩm: đương sự không phải chịu. Trả lại cho bà BĐ_Trần Thị Ánh Tâm số tiền 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai số 08873 ngày 09/7/2015 của Cục Thi hành án Dân sự thành phố HCM.

94/2016/DS-GĐT: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • 167
  • 15

Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

25-07-2016

1. Chấp nhận Kháng nghị số 8B/2015/KN-DS ngày 25/12/2015 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố HCM. 2. Hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 1610/2012/DS-PT ngày 27/12/2012 của Tòa án nhân dân Thành phố HCM và Bản án dân sự sơ thẩm số 246/2012/DS-ST ngày 08/8/2012 của Tòa án nhân dân quận X, Thành phố HCM về vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là ông NĐ_Lê Trung Tín, bà NĐ_Lê Thị Loan với bị đơn là ông BĐ_Trần Trọng Toàn.

04/2016/HNGĐ-GĐT: Ly hôn

  • 232
  • 30

Ly hôn

02-03-2016

Theo đơn khởi kiện ngày 10/7/2011 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh NĐ_Mạc Quang Phúc trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị BĐ_Bùi Thị Thanh Thanh kết hôn ngày 03/12/2008 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã Quảng Thanh, huyện Quảng Nguyên, thành phố HP. Sau khi kết hôn vợ chồng anh sống hạnh phúc, đến tháng 8/2010 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, thường xuyên va chạm, xích mích. Anh thấy tình cảm vợ chồng không còn nên làm đơn xin ly hôn chị BĐ_Thanh. Về con chung: Vợ chồng anh có một con chung là cháu Mạc Hồng Anh, sinh ngày 14/5/2009. Anh đồng ý để chị BĐ_Thanh trực tiếp nuôi dưỡng con đến khi cháu đủ 10 tuổi, sau đó anh tiếp tục nuôi cháu đến khi trưởng thành.