TRA CỨU BẢN ÁN TRỰC TUYẾN & HỢP ĐỒNG MẪU


54/2014/DS-GĐT: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • 27
  • 1

Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

24-02-2014

Ngày 24/7/2009 ông BĐ_Đoàn Đình Quân vay của bà với tổng số tiền là 350.000.000 đồng (ba trăm năm mươi triệu đồng) chia thành 2 lần (lần một là 150.000.000 đồng; lần 2 là 200.000.000 đồng) để đáo hạn ngân hàng và hứa 2 ngày sau ông BĐ_Quân sẽ trả bà số tiền trên. Khi vay hai bên có lập giấy vay tiền do ông LQ_Nguyễn Hồng Ngân (chồng bà NĐ_Chung) viết giúp; sau đó ông BĐ_Quân đã trả cho bà 210.000.000 đồng (hai trăm mười triệu đồng); còn 140.000.000 đồng (một trăm bốn mươi triệu đồng) ông BĐ_Quân không trả nên bà yêu cầu ông BĐ_Quân phải trả cho bà cả tiền gốc và tiền lãi theo quy định của pháp luật.

110/2014/DS-GĐT: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • 5
  • 0

Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

25-03-2014

Ngày 08/12/2009, bà NĐ_Phạm Thị Bích Nga có cho bà BĐ_Nguyễn Thị Sang vay số tiền 2.500.000.000đ (hai tỷ năm trăm triệu đồng), hợp đồng có chứng thực của phòng công chứng, thời hạn vay là 02 tháng, lãi suất vay là 3%. Vì tin tưởng nhau nên ngày 18/12/2009, bà NĐ_Nga và bà BĐ_Sang có lập hợp đồng hợp tác liên doanh (bà BĐ_Sang là chủ doanh nghiệp tư nhân Nguyễn Sanh) xây dựng chung cư 17 Củ Chi, phường VH, thành phố NT. Để hoàn thành hợp đồng này, từ ngày 15/12/2009 đến ngày 18/12/2009, bà NĐ_Nga đã chuyển cho bà BĐ_Sang tổng cộng số tiền 4.000.000.000đ (bốn tỷ đồng). Từ khi nhận được tiền, bà BĐ_Sang cố tình không thực hiện đúng theo các thỏa thuận đã ký kết trong hợp đồng. Nay bà NĐ_Nga yêu cầu bà BĐ_Sang phải trả lại cho bà tổng số tiền đã nhận là 6.500.000.000đ (sáu tỷ năm trăm triệu đồng) và lãi suất theo quy định của pháp luật.

63/2014/DS-GĐT: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • 10
  • 1

Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

27-02-2014

Ngày 29/01/2002, cụ NĐ_Lê Đình Hoà và cụ NĐ_Doãn Thị Liên có cho vợ chồng ông BĐ_Nguyễn Ngọc Lâm, bà BĐ_Nguyễn Thị Giang vay 100 lượng vàng SJC với lời hứa sẽ đảm bảo hoàn trả trong vòng 1 tháng. Ông BĐ_Lâm, bà BĐ_Giang cũng hứa khi trả vàng sẽ biếu hai cụ 01 lượng vàng bằng 1% lãi; việc vay vàng có lập văn bản do bà BĐ_Giang viết. Sau đó, tháng nào hai cụ cũng ra cửa hàng vàng của bà BĐ_Giang đòi nợ nhưng bà BĐ_Giang toàn khất từ tháng này qua tháng khác với lý do chưa bán được nhà. Hàng tháng, bà BĐ_Giang đưa cho bà LQ_Loan (con gái của cụ NĐ_Hoà, cụ NĐ_Liên) tiền lãi 1% = 1 lượng vàng chứ không trả số vàng gốc 100 lượng. Từ tháng 02/2002 đến tháng 10/2004, bà BĐ_Giang đã trả được 33 tháng lãi, mỗi tháng 1 lượng bằng 33 lượng.

884/2013/DS-PT: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • 16
  • 3

Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Phúc thẩm
18-07-2013

Tại đơn khởi kiện đề ngày 28/3/2011, các biên bản hòa giải ngày 22/5/2012. ngày 18/6/2012, ngày 17/7/2012 và ngày 29/8/2012, nguyên đơn ông NĐ_Nguyễn Văn Thân, bà NĐ_Bùi Thị Kim Phúc trình bày: Ngày 17/7/2007, tại Phòng công chứng số 1 thành phố HCM, ông bà và vợ chồng bà BĐ_Hồ Thị Liên, ông BĐ_Huỳnh Thế Quý đã ký hợp đồng vay vàng với nội dung là ông bà cho bà BĐ_Liên, ông BĐ_Quý vay 172 lượng vàng SJC, lãi suất 1%/tháng, giao lãi vào ngày 15 dương lịch hàng tháng, thời hạn vay là 01 năm kể từ ngày 17/7/2007. Bà BĐ_Liên, ông BĐ_Quý đã nhận đủ số vàng vay nhưng trả lãi không đầy đủ.

89/2015/DS-GĐT: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • 23
  • 3

Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

08-04-2015

Hợp đồng tín dụng số 100.98/HĐTD ngày 27/5/1998, ông BĐ_Huỳnh Ngọc Sang và bà BĐ_Lê Thị Hạ vay tại NĐ_Ngân hàng TMCP Bình Quang chi nhánh TG số 1.300.000.000đ, thời hạn vay 60 tháng, lãi suất trong hạn 0,6%/tháng, lãi suất quá hạn 0,9%/tháng. Ông BĐ_Sang và bà BĐ_Hạ thế chấp 01 tàu cá hiệu Nhân Nghĩa biển số TG91269TS để đảm bảo nợ vay. Thực hiện hợp đồng, ông BĐ_Sang, bà BĐ_Hạ có hoàn trả số tiền vốn gốc 776.000.000đ và số lãi suất 80.876.368đ. Ngày 26/1/2011 trả thêm được 50.000.000đ tiền góc còn nợ lại số tiền gốc là 474.000.000đ và tiền lãi tạm tính đến ngày khởi kiện là 940.702.179đ. NĐ_Ngân hàng TMCP Bình Quang khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông BĐ_Sang và bà BĐ_Hạ hoàn trả cho Ngân hàng số tiền gốc và lãi còn nợ là 1.464.702.179đ. Nếu ông BĐ_Sang và bà BĐ_Hạ không trả thì đề nghị xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng.