TRA CỨU BẢN ÁN TRỰC TUYẾN & HỢP ĐỒNG MẪU


52/2011/DSST: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • 33
  • 2

Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Sơ thẩm
21-06-2011

Nguyên đơn ông NĐ_Nguyễn Thanh Linh trình bày: Vào ngày 05 tháng 08 năm 2009, ông BĐ_Nguyễn Hữu Tân, bà BĐ_Nguyễn Thị Minh Nga có mượn ông số tiền 200.000.000 đồng, hai bên có làm hợp đồng ra công chứng và thời gian trả nợ là 06 (sáu) tháng. Đến ngày 01/11/2009, vợ chồng ông BĐ_Nguyễn Hữu Tân, Bà BĐ_Nguyễn Thị Minh Nga mượn tiếp ông số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng), số tiền này do ông BĐ_Tân cho rằng mượn tạm để làm giấy tờ nhà nên hai bên không có làm giấy tờ đến hết thời gian 06 (sáu) tháng, vợ chồng ông BĐ_Tân vẫn không trả nợ và hẹn khi nào làm xong giấy tờ nhà vay ngân hàng sẽ trả cho ông.

238/2014/DS-ST: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • 58
  • 5

Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Sơ thẩm
31-07-2014

Do là chỗ quen biết nên vào ngày 29/9/2009 ông có cho BĐ_Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng và thương mại Thuận An do ông Đỗ Giai làm giám đốc vay số tiền 490.000.000 đồng, vay không có lãi, BĐ_Công ty Thuận An vay tiền với mục đích để làm gì ông không biết. Trước đó vào khoảng đầu tháng 9/2009 ông cũng đã cho ông Phong là người quen của ông Giai vay số tiền 60.000.000 đồng, ông Giai cam kết sẽ đứng ra nhận lãnh phần trả nợ thay cho ông Phong. Chính vì vậy ông Giai đã lập giấy biên nhận, ký tên và đóng dấu công ty xác nhận có nợ ông tổng số tiền 550.000.000 đồng, ông Giai cam kết khi tàu chở cát Taya 311 của BĐ_Công ty Thuận An khởi hành được năm ngày thì bảy ngày sau (tức là 12 ngày kể từ ngày tàu Taya 311 khởi hành) BĐ_Công ty Thuận An sẽ trả cho ông số tiền 210.000.000 đồng, số tiền 340.000.000 đồng còn lại sẽ trả trong thời gian sáu mươi ngày. Tuy nhiên khi đến hạn, BĐ_Công ty Thuận An vẫn không thanh toán cho ông một khoản tiền nào.

102/2014/DSST: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • 11
  • 0

Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Sơ thẩm
07-05-2014

và lời khai ở Tòa án đã trình bày: Ngày 24/9/2011 bà BĐ_Nguyễn Thị Kim Minh trực tiếp hỏi vay của bà 100.000.000đồng. Ngày 30/10/2011 bà BĐ_Kim Minh vay tiếp 100.000.000đồng. Ngày 25/11/2011 bà BĐ_Kim Minh vay tiếp 100.000.000đồng. Lần cuối cùng là ngày 25/12/2011 bà BĐ_Kim Minh vay tiếp 100.000.000đồng, tổng cộng 400.000.000đồng, mỗi lần vay tiền bà BĐ_Kim Minh có viết giấy nợ với bà. Bà BĐ_Kim Minh thỏa thuận miệng trả lãi 3 % / tháng, hẹn vài tháng sẽ trả. Về tiền lãi thì bà BĐ_Kim Minh chỉ trả lãi được 6,7 tháng thì ngưng, từ tháng 6/2012 đến nay không trả lãi lẫn vốn. Lúc vay tiền của bà thì bà BĐ_Kim Minh nói để đóng tiền lãi vay ngân hàng.Việc vay các số tiền trên mặc dù chỉ có một mình bà BĐ_Kim Minh trực tiếp nhận tiền, nhưng theo bà biết là ông LQ_Dương Văn Dân có biết vì thời đểm đó vợ chồng bà BĐ_Kim Minh và ông LQ_Dân vẫn kinh doanh mua bán tủ bàn ghế ở đường HG Quận X, thế chấp nhà để vay vốn kinh doanh.

70/2014/DS-ST: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • 8
  • 0

Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Sơ thẩm
27-03-2014

Ngày 01/7/2012 nguyên đơn cho bị đơn mượn số tiền 63.000.000 đồng, có lập giấy mượn tiền, hẹn sau 12 tháng thanh toán, lãi suất vay hai bên thỏa thuận là 2,5%/tháng, bên nguyên đơn không giữ giấy tờ hay tài sản thế chấp gì của bên bị đơn. Nguyên đơn đã giao đủ tiền cho bị đơn, nhưng chưa nhận tiền lãi lần nào. Quá thời hạn vay, bị đơn không thanh toán nợ cho nguyên đơn. Nguyên đơn yêu cầu: bị đơn trả lại số tiền vốn 63.000.000 đồng, tiền lãi 2,5%/tháng tính từ ngày 01/7/2012 đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm là 32.865.000 đồng, tổng cộng hai khoản là 95.865.000 đồng. Thanh toán làm một lần ngay sau bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

64/2014/DS-ST: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • 8
  • 0

Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Sơ thẩm
20-03-2014

Ngày 17/11/2009 ông NĐ_Sinh có cho ông BĐ_Quân và bà BĐ_Hân vay số tiền 750.000.000 đồng với lãi suất 2%/tháng. Ngày 07/5/2010 ông NĐ_Sinh có cho ông BĐ_Quân và bà BĐ_Hân vay 250.000.000 đồng với lãi suất 2%/tháng. Ngày 05/8/2011 ông NĐ_Sinh cho ông BĐ_Quân vay số tiền 780.000.000 đồng với lãi suất 2%/tháng. Tổng cộng ông NĐ_Sinh cho vợ chồng ông BĐ_Quân và bà BĐ_Hân vay số tiền là : 1.780.000.000 đồng. Việc vay nợ giữa ông BĐ_Quân và bà BĐ_Hân với ông NĐ_Sinh có làm giấy mượn nợ tiền đều có ký tên của ông NĐ_Sinh, ông BĐ_Quân và bà BĐ_Hân. Riêng giấy mượn tiền đề ngày 05/8/2011 thì chỉ có ông BĐ_Quân ký tên còn bà BĐ_Hân không ký tên.