CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI CASELAW VIỆT NAM



Sắp xếp:

Bản án/Quyết định số: 143/2015/DS-ST Sơ thẩm Dân sự - Hôn nhân gia đình - Đất đai - Thừa kế

  • 305
  • 26

Yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật

15-05-2015
TAND cấp huyện

Năm 2002 ông Bùi Văn Trọng chết, năm 2010 bà Lê Thị Ngọc Lan chết không để lại di chúc, bà BĐ_Mừng đã tự làm giả di chúc, kê khai di sản thừa kế bỏ sót tên của bà NĐ_Sáng và bà LQ_Xoan để chiếm đoạt tài sản của cha mẹ để lại. Nay bà NĐ_Sáng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Yêu cầu hủy bỏ di chúc của ông Trọng, bà Lan và yêu cầu Tòa án giải quyết chia thừa kế theo pháp luật đối với tài sản do cha mẹ bà để lại. Tài sản nhà, đất nói trên được chia làm 3 phần, bà NĐ_Sáng, bà BĐ_Mừng và bà LQ_Xoan mỗi người được một phần bằng nhau. Bà NĐ_Sáng xin nhận phần thừa kế của mình, phần nhà đất để ở.


Bản án/Quyết định số: 05/2012/DSST Sơ thẩm Dân sự - Hôn nhân gia đình - Đất đai - Thừa kế

  • 348
  • 31

Yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật

20-09-2012
TAND cấp huyện

Tại đơn khởi kiện ông NĐ_Lâm Miên trình bày: Cha ông là cụ Lâm Kil (chết năm 1975) và mẹ cụ Thạch Thị Tim (chết ngày 18/12/2010), có 04 người con chung, gồm: Ông LQ_Lâm Kiên, bà LQ_Lâm Thị Loan, bà BĐ_Lâm Thị Liên và ông. Cụ Tim chết có để lại di sản là căn nhà số 2/296, ấp Biển Đông B, xã VTĐ, thành phố BL, tỉnh BL, trước khi chết cụ Tim không để lại di chúc. Nay ông yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật căn số 2/296, ấp Biển Đông B, xã VTĐ, thành phố BL, tỉnh BL, hiện căn nhà do bà BĐ_Lâm Thị Liên và con trai là anh LQ_Thạch Chánh Quân đang quản lý. Ông yêu cầu: Chia căn nhà thành bốn kỷ phần cho bốn người con. Do hiện nay ông không có nhà để ở và đồng thời phần đất tại căn nhà trên là đất của ông và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng do ông đứng tên, nên ông yêu cầu được nhận hiện vật là căn nhà trên và ông đồng ý thối lại kỷ phần cho các đồng thừa kế khác được hưởng theo quy định pháp luật.


Bản án/Quyết định số: 37/2008/DS-GĐT Giám đốc thẩm Dân sự - Hôn nhân gia đình - Đất đai - Thừa kế

  • 116
  • 9

Yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật

28-11-2008

Tại “Đơn xin thừa kế nhà đất” ngày 22-02-2002 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là ông NĐ_Nguyễn Văn Đa, bà NĐ_Nguyễn Thị Thịnh trình bày: Vợ chồng cụ Nguyễn Thị Sửu (chết năm 1992) và cụ Nguyễn Văn Tiếng (chết năm 1993), có 3 người con chung là các ông, bà NĐ_Nguyễn Văn Đa, BĐ_Nguyễn Văn Sinh và NĐ_Nguyễn Thị Thịnh. Trước khi kết hôn với cụ Sửu thì cụ Tiếng có 1 người con riêng là ông Nguyễn Văn Nhựt (chết năm 1995, có vợ là bà LQ_Trương Thị Hi và các con là các anh, chị LQ_Nguyễn Thế Trú, LQ_Nguyễn Thế Tá, LQ_Nguyễn Thế Tí, LQ_Nguyễn Thủy Tu, LQ_Nguyễn Thủy Trì, LQ_Nguyễn Thủy Trận, LQ_Nguyễn Thế Thiệu); cụ Sửu cũng có 1 người con riêng là bà Nguyễn Thị Chức (chết năm 1993, có chồng là ông LQ_Trần Văn Hồng và các con là các anh, chị LQ_Trần Tấn Thạnh, LQ_Trần Thị Thy, LQ_Trần Văn Nhã, LQ_Trần Thị Lành).


Bản án/Quyết định số: 271/2008/DS-GĐT Giám đốc thẩm Dân sự - Hôn nhân gia đình - Đất đai - Thừa kế

  • 125
  • 6

Yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật

27-11-2008

Vợ chồng cụ Hạo và cụ Nga có mảnh đất vườn diện tích 4.370m2: tại xã LH, huyện CG, thành phố HCM; do đi chạy tản cư nên năm 1973 cụ Hạo từ VT về cất nhà ở và trồng cây trái trên diện tích đất vườn tại CG. Sau khi các cụ chết đều không để lại di chúc, thửa đất này do ông BĐ_Nguyễn Văn Nguyên trực tiếp quản lý sử dụng, ông BĐ_Nguyên đã kê khai đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1999. Nay các ông yêu cầu chia thừa kế di sản của cụ Hạo và cụ Nga đồi với phần diện tích đất nói trên theo pháp luật, lời khai của ông NĐ_Đoạn ngày 27-6-2002 yêu cầu chia di sản là nhà đất theo quy định của pháp luật.


Bản án/Quyết định số: 25/2013/QĐ-GĐT Giám đốc thẩm Dân sự - Hôn nhân gia đình - Đất đai - Thừa kế

  • 188
  • 7

Yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật

22-04-2013

Theo đơn khởi kiện đề ngày 12/10/2006 và quá trình giải quyết vu kiên, nguyên đơn là bà NĐ_Trần Thị Vui trình bày: Cụ Trần Quang Tánh và cụ Bùi Thị Lượng có 6 người con là: LQ_Trần Thị Hồng, bà LQ_Trần Thị Soa, ông LQ_Trần Văn Kiên (hiện nay đang cư trú tại Australia), bà Trần Thị Yên, ông Trần Văn Vận và bà NĐ_Trần Thị Vui. Cụ Tánh chết năm 1987, cụ Lương chết năm 1985 đều không LQ_Đức lại di chúc. Bà Yên chết năm 2003, chồng bà Yên là ông Phạm Trọng Nhật chết năm 1947, bà Yên có 2 con là chị Phạm Thị Phận (chị Phận không có chồng, có 1 con là LQ_Phạm Hoàng Tiến) và anh LQ_Phạm Văn Đức.