TRA CỨU BẢN ÁN TRỰC TUYẾN & HỢP ĐỒNG MẪU


49/2014/DS-GĐT: Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

  • 9
  • 0

Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

20-02-2014

Khi cụ Minh và cụ Ba còn sống cho ông Lộc (là con trai của cụ Minh, cụ Ba) và bà Kim Cưong (là cha mẹ của các nguyên đơn) diện tích đất có chiều ngang 15m, dài từ hố Ben Siêu đến giáp ruộng ông Mầm (là một phần trong tổng diện tích đất nêu trên). Nhưng không lập giấy tờ. Ông Lộc, bà LQ_Kim Cần đã cất nhà ở tạm trên đất và hiện nay ngôi nhà đó vẫn còn. Ông Lộc, bà LQ_Cần có trồng cây bạch đàn, hiện chỉ còn 01 cây cặp vách nhà sau; sau đó vợ chồng ông BĐ_Sinh, bà BĐ_Phụng; ông Quí (là con của cụ Minh, cụ Ba) và bà LQ_Loan (là con của cụ Minh, cụ Ba) sử dụng diện tích đất này trồng số cây còn lại.

27/2015/GĐT-DS: Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

  • 392
  • 54

Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

16-10-2015

Tại “Đơn khởi kiện đòi đất” đề ngày 30/6/2004 và các đơn yêu cầu, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là bà NĐ_Phạm Thị Hương, NĐ_Phạm Thị Hữu, NĐ_Phạm Thị Hà trình bày: Cha, mẹ các bà là cụ Phạm Văn Hoạt (chết năm 1978) và cụ Ngô Thị Vận (chết ngày 21/8/1994) có bảy con là ông BĐ_Phạm Văn Hè, ông Phạm Văn Đạt (chết năm 1998), ông LQ_Phạm Văn Thủ, ông Phạm Văn Quang (chết năm 2000) và các bà là NĐ_Phạm Thị Hương, NĐ_Phạm Thị Hữu, NĐ_Phạm Thị Hà. Sinh thời các cụ có gian nhà, gian bếp trên khoảng 464m2 đất tại thị trấn QO, tỉnh Hà Tây (cũ, nay thuộc thành phố HN).

424/2013/DS-GĐT: Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

  • 431
  • 14

Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

26-09-2013

Năm 1997, bà BĐ_Nữ đã đồng ý họp thân tộc để chia đất và thống nhất gia đình bà BĐ_Nữ sử dụng 14 diện tích đất, còn lại 14. giao cho thân tộc. Tuy nhiên, sau đó chị BĐ_Ánh không đồng ý chia đất vì chị BĐ_Ánh đang sản xuất trên phần đất có diện tích 15.344m2. Cụ Đinh và cụ Phước có 9 người con gồm các ông bà Nguyễn Thị Lộc, BĐ_Nguyễn Thị Nữ, Nguyễn Văn Ngưng, Nguyễn Thị Điền, Lê Văn Thực, Lê Văn Mài, Nguyễn Văn Mãi, Nguyễn Văn Lăng, Nguyễn Thị Nhẹ, nhưng bà Lộc, ông Ngưng, bà Điền đã chết không có chồng, vợ, con. Ông Thực chết năm 2004, ông Mài chết năm 2001, ông Mãi chết năm 1990, ông Lăng chết năm 1976 (có 7 người con là NĐ_Nguyễn Văn Sâm, LQ_Nguyễn Văn Nghĩa, LQ_Nguyễn Văn Bân, LQ_Nguyễn Thị Nhi, LQ_Nguyễn Thị Duyên, LQ_Nguyễn Văn Ung, LQ_Nguyễn Thị Kim Hảo), bà Nhẹ chết có 5 người con gồm: Ông NĐ_Sỹ, ông LQ_Thịnh, bà LQ_Thư, bà LQ_Giang ,ông LQ_Mạnh. Do đó, các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà BĐ_Nữ và chị BĐ_Ánh phải chia 14 tổng diện tích đất của cụ Đinh, cụ Phước để lại cho các nguyên đơn.

Bản án/Quyết định số: 32/2010/DS-GĐT

  • 122
  • 12

Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

16-08-2010

Ngày 20/11/2003, cụ Tiềm lập di chúc (có công chứng chứng thực) cho ông BĐ_Tín lô đất thứ nhất. Ngày 03/12/2003, cụ Tiềm chết. Bà NĐ_Trinh và bà NĐ_Duyên khởi kiện cho rằng trong lô đất thứ nhất thì tài sản chung của cụ Phúc, cụ Tiềm chỉ là 400m2, diện tích đất còn lại là do các ông, bà cùng cụ Tiềm khai phá, lấn rộng ra xung quanh, vì vậy, việc cụ Tiềm lập di chúc cho ông BĐ_Tín lô đất này là không đúng; hơn nữa khi lập di chúc cụ Tiềm bị điếc và lú lẫn, nên đi chúc này không hợp pháp. Đối với lô đất thứ 2, ông BĐ_Tín tự ý kê khai đứng tên là không đúng. Do đó, đề nghị Tòa án chia thừa kế cả hai lô đất trên theo quy định của pháp luật; đối với diện tích đất cụ Tiềm, ông BĐ_Tín đã chuyển nhượng cho ông LQ_Bùi Văn Khang thì yêu cầu ông LQ_Bùi Văn Khang trả lại, ông BĐ_Tín có trách nhiệm trả lại tiền cho ông LQ_Khang.

Bản án/Quyết định số: 18/2006/HN-ST

  • 183
  • 9

Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

Sơ thẩm
14-06-2006

Theo nguyên đơn bà NĐ_Nguyễn Thị Thanh Tạo trình bày: Bà và ông BĐ_Huỳnh Thanh Toán kết hôn ngày 7/7/2003 tại sở tư pháp TV. Sau kết hôn được một tuần ông BĐ_Toán trở qua Mỹ sinh sống từ đó đến nay chỉ 02 lần liên lạc nhau trên mạng Internet rồi không còn liên lạc với nhau. Nay ông BĐ_Toán từ chối bảo lãnh bà sang Mỹ, nên bà xin ly hôn với ông BĐ_Toán.