TRA CỨU BẢN ÁN TRỰC TUYẾN & HỢP ĐỒNG MẪU


Đòi lại tài sản

  • 20
  • 4

Đòi lại tài sản

16-12-2014

Theo nguyên đơn cụ NĐ_Hà trình bày: Cụ lấy cụ Nguyễn Văn Thới làm vợ hai từ năm 1954 (cụ Thới lấy cụ Nguyễn Thị Lức là vợ cả từ năm 1952 và cụ Lức là chị gái ruột của cụ NĐ_Hà). Việc cụ NĐ_Hà lấy cụ Thới là được sự đồng ý của bố mẹ cụ và hai bên nội ngoại, kể từ ngày về sống với cụ Thới, hai chị em cùng chung sống hòa thuận và sinh được 04 người con. Cụ Thới cụ Lức sinh được 03 người con gồm: Bà Nguyễn Thị Cúc sinh năm 1953; ông BĐ_Nguyễn Anh Tài sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị Hoa sinh năm 1963. Còn cụ và cụ Thới sinh được hai người con, một người con trai đã mất, còn một người con gái là Nguyễn Thị Hạnh sinh năm 1965. Hiện nay các con đi lấy chồng, chỉ còn cụ và vợ chồng ông BĐ_Tài ở tại số nhà 38 - LTT - Quảng Xá 1 - P.ĐV - TP TH.

515/2014/DS-GĐT: Đòi lại tài sản

  • 24
  • 2

Đòi lại tài sản

16-12-2014

Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai nguyên đơn bà NĐ_Nguyễn Thị Hoà trình bày: Ngày 27/8/2000 bà và con trai bà là anh Đào Ngọc Chiến có mua của vợ chồng anh Sủng Quang Nùng và Tráng Xuẩn Mây một nếp nhà tạm 2 gian lợp ngói nằm trên diện tích 107m2 tại tổ 29, phường DH, thành phố LC, tỉnh LC với giá 7.500.000đ, mục đích bà mua là để cho con trai bà là anh Đào Ngọc Chiến vì anh Chiến đã lập gia đình nhưng chưa có chỗ ở ổn đinh, nhưng năm 2002 anh Chiến đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài nên không ở đó.

466/2014/DS-GĐT: Đòi lại tài sản

  • 7
  • 1

Đòi lại tài sản

24-11-2014

Ngày 18/4/2007, ông BĐ_Long có đến chợ Châu Ô, nơi bà bán hàng, ông BĐ_Long nói với bà là ông LQ_Thư chồng bà có nói với ông BĐ_Long xuống chỗ bà nhận 20.0000.000 đồng để ông BĐ_Long đi mua cây cho ông LQ_Thư. Vì biết giữa ông LQ_Thư và ông BĐ_Long quen biết nhau qua việc mua bán gỗ dăm, nên bà đã đưa cho ông BĐ_Long 20.000.000 đồng, ông BĐ_Long có viết giấy biên nhận. Ngày 13/5/2007 giữa ông BĐ_Long và ông LQ_Thư tính toán và thanh toán tiền mua bán gỗ dăm chung với nhau, nhưng ông LQ_Thư không trừ tiền mà ông BĐ_Long đã lấy của bà nói trên và ông BĐ_Long cũng không trả lại số tiền trên cho bà.

448/2014/DS-GĐT: Đòi lại tài sản

  • 4
  • 0

Đòi lại tài sản

29-06-2011

Tại đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà NĐ_Võ Thị Thu Hậu và ông NĐ_Trần Quốc Trà trình bày: Ngày 01/6/2009 bà NĐ_Hậu và ông Nguyễn Hữu Đượm đã lập 01 hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất. Theo đó, ông Đượm chuyển nhượng thửa đất 325 do ông Đượm đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Giấy CNQSD đất) cho ông NĐ_Trà, bà NĐ_Hậu cùng với căn nhà cấp 4 gắn liền với đất giá 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng), số tiền đặt cọc là 300.000.000đ, thời gian giao nhà thỏa thuận vào ngày 31/12/2010. Hợp đồng được công chứng tại Văn phòng công chứng Phương Nam. Cùng ngày ông Đượm đã nhận số tiền cọc 300.000.000đ.

50/2014/DS-GĐT: Đòi lại tài sản

  • 17
  • 1

Đòi lại tài sản

20-02-2014

Đơn khởi kiện ngày 06/5/2010 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà NĐ_Vũ Thị Phụng trình bày: Năm 1981 ông Lê Xuân Quốc và bà NĐ_Vũ Thị Phụng được xí nghiệp đá Yên Cư cấp 02 gian nhà tập thể cấp 4 nằm trên diện tích 400m2 đất. Sau khi ở gia đình bà khai hoang thêm 200m2 đất (liền kề) tọa lạc tại xã ĐY, thành phố HL, tỉnh QN. Năm 2001, ông Quốc chết nên toàn bộ nhà và diện tích đất trên do bà NĐ_Phụng và các con quản lý (BL86). Tháng 2/1993, ông BĐ_Lê Xuân Hương hỏi ông Quốc mượn một phần đất (thuộc phần 200m2 đất gia đình khai hoang thêm) để xây quán. Tháng 3/2005, anh Thanh (em vợ ông BĐ_Hương) mượn thêm 60m2 của gia đình bà để làm kho chứa vật liệu xây dựng, sau này anh BĐ_Hương đã sử dụng thêm cả phần diện tích anh Thanh trả với tổng diện tích là 187m2. Năm 2005 Nhà nước đã cấp Giấy CNQSD đất ở cho ông Quốc và bà NĐ_Phụng tổng diện tích 610,2m2 trong đó có 2.00m2 đất khai hoang thêm. Nay bà NĐ_Phụng yêu cầu ông BĐ_Hương phải trả lại phần diện tích 187m2 đất nói trên.