TRA CỨU BẢN ÁN TRỰC TUYẾN & HỢP ĐỒNG MẪU


265/2014/DSST: Tranh chấp tài sản thuộc sở hữu chung

  • 28
  • 2

Tranh chấp tài sản thuộc sở hữu chung

Sơ thẩm
14-08-2014

Căn nhà số 715B HG, Phường 11, Quận X nguồn gốc của ông Trần Long và bà Triều Thị Múi sở hữu. Năm 2009 ông Long và bà Múi tặng cho 3 người con là ông NĐ_Trần Minh Quân, LQ_Trần Minh Nga và BĐ_Trần Minh Đan. Năm 2009 ba anh em của ông NĐ_Quân làm thủ tục cấp giấy chứng nhận QSHNỞ và QSDĐỞ do 3 người đứng tên, đồng thời 3 anh em có ký giấy thỏa thuận nếu sau nầy mà nhà có bán chia hoặc chuyển nhượng cho ai thì mỗi người được hưởng 1/3 giá trị căn nhà. Năm 2012, 03 anh em làm lại thủ tục mỗi người đứng tên giấy chứng nhận QSHNỞ và QSDĐỞ, nhưng sở hữu chung 01 căn nhà số 715B HG, Phường 11, Quận X và ở chung căn nhà nầy. Năm 2012 ông Long chết, năm 2013 bà Múi chết.

141/2014/DS-ST: Tranh chấp tài sản thuộc sở hữu chung

  • 9
  • 1

Tranh chấp tài sản thuộc sở hữu chung

Sơ thẩm
05-06-2014

Theo đơn khởi kiện của bà NĐ_Trần Thanh Linh đề ngày 23/4/2009, đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện đề ngày 06/9/2013, tại bản tự khai và các biên bản hòa giải nguyên đơn bà NĐ_Trần Thanh Linh trình bày: Cha mẹ ruột của bà là ông Trần Văn Út và bà Hồ Thị Ba, khi mẹ bà vừa sinh bà ra được 13 ngày tuổi thì mẹ bà bị bệnh chết nên cha bà là ông Trần Văn Út và cũng là em ruột của bà Trần Thị Viên đã cho bà cho vợ chồng bà Trần Thị Viên và ông Lương Ký làm con nuôi nên ông Ký và bà Viên đem bà về nuôi dưỡng và bà đã sinh sống với ông Ký và bà Viên tại căn nhà số 11 đường THĐ, Phường 13, Quận X cho đến khi ông Ký bà Viên chết

Bản án/Quyết định số: 45/2013/ST - DS

  • 85
  • 8

Tranh chấp tài sản thuộc sở hữu chung

Sơ thẩm
30-05-2013

Căn nhà số S 25/4 TTT, Phường 18, Quận Z có nguồn gốc của cha mẹ ông NĐ_Hà là ông Nguyễn Văn Phú (chết năm 1990) và bà Võ Thị Quý (chết năm 1994). Trong quá trình chung sống thì ông Phú bà Quý sinh được 07 người con là: NĐ_Nguyễn Văn Hà, LQ_Nguyễn Ngọc Hoa, LQ_Nguyễn Ngọc Ngoa, LQ_Nguyễn Văn Sinh, LQ_Nguyễn Ngọc Vương, BĐ_Nguyễn Ngọc Loan, Nguyễn Văn Hùng (đã chết năm 2005), ông Hùng có vợ là bà LQ_Đặng Thị Linh, có 06 người con chung là: LQ_Nguyễn Văn Đan, LQ_Nguyễn Hùng Sang, LQ_Nguyễn Hùng Tú, LQ_Nguyễn Hùng Khoa, LQ_Nguyễn Hùng Việt Luân, LQ_Nguyễn Hùng Thanh Phương.

Bản án/Quyết định số: 117/2013/DS-GĐT

  • 97
  • 9

Tranh chấp tài sản thuộc sở hữu chung

12-09-2013

Năm 1987, cụ Kiều chết, không để lại di chúc. Năm 1989, cụ Thành lập di chúc để lại cho ông BĐ_Lữ được thừa kế căn nhà cùng toàn bộ tài sản, đồ dùng sinh hoạt trong nhà, đồng thời cho bà và cụ Hảo được quyền cư trú trọn đời trong căn nhà nêu trên. Năm 1994, cụ Thành lập di chúc khác có nội dung để lại căn nhà số 416/116 NĐC làm nhà hương hỏa, không hợp thức chủ quyền cho riêng ai; ông BĐ_Lữ và vợ con được sử dụng tầng trệt; bà và cụ Hảo được ở tại tầng lầu cho đến hết đời. Ngày 17/11/1994, cụ Thành chết. Năm 1997, cụ Hảo về Bạc Liêu sống, đến năm 2006 thì chết.

Bản án/Quyết định số: 317/2012/DS-GĐT

  • 91
  • 11

Tranh chấp tài sản thuộc sở hữu chung

17-07-2012

Nguyên đơn là ông NĐ_Hứa Tĩnh trình bày: cha mẹ của ông là Hứa Đàm Am (chết năm 1998) và bà Diệp Thị Bảy (chết năm 1994), có tất cả 04 người con gồm: BĐ_Hứa Huy, LQ_Hứa Võ Hai, NĐ_Hứa Tĩnh, Hứa Tài Tỷ và LQ_Diệp Thêm Hà. Cha mẹ không để lại di chúc nhưng có để lại tài sản là căn nhà 223A HVT, phường 8, quận PN, thành phố HCM, hiện do gia đình ông BĐ_Hứa Huy và ông Diệp Thêm Hỉ đang quản lý sử dụng. Khi ông BĐ_Hứa Huy bỏ tiền để hợp thức hóa căn nhà (mua từ các con của bà Liêng - chủ nhà) thì ông BĐ_Huy không cho các anh em biết, chứ nếu biết thì các anh em đã cùng nhau hùn tiền để hợp thức hóa nhà.