TRA CỨU BẢN ÁN TRỰC TUYẾN & HỢP ĐỒNG MẪU


60/2014/DS-GĐT: Tranh chấp tài sản thuộc sở hữu chung

  • 72
  • 3

Tranh chấp tài sản thuộc sở hữu chung

25-02-2014

Theo đơn khởi kiện đề ngày 16/8/2011 và quá trình tố tụng nguyên đơn bà NĐ_Nguyễn Thị Chi trình bày: Hai cụ Nguyễn Văn Bền và LQ_Trần Thị Linh có 05 người con (bà LQ_Nguyễn Thị Chân, LQ_Nguyễn Thị Mỹ Dân, LQ_Nguyễn Văn Tân, BĐ_Nguyễn Văn Minh, NĐ_Nguyễn Thị Chi). Trước khi hy sinh (năm 1973), cụ Bền có cho bà NĐ_Chi 01 lượng vàng. Năm 1977, bà NĐ_Chi góp 01 lượng vàng cho mẹ là cụ LQ_Linh nhận chuyển nhượng 01 lô đất, diện tích hơn 2.000m2 trên có một căn nhà cấp 4 diện tích 64m2 tại 49/31 PHT, phường 10, thành phố ĐL, tỉnh LĐ của cụ Đường với giá là 2.800đ (giá vàng khi đó 1.500đ/ lượng). Việc chuyển nhượng này do ông LQ_Tân (anh cả) đứng ra giao dịch thay cho mẹ. Sau khi chuyển nhượng, cả gia đình cùng sinh sống trên diện tích đất này, đến năm 1991 bà NĐ_Chi mới chuyển ra ngoài sinh sống vì mâu thuẫn với ông BĐ_Minh.

265/2014/DSST: Tranh chấp tài sản thuộc sở hữu chung

  • 34
  • 2

Tranh chấp tài sản thuộc sở hữu chung

Sơ thẩm
14-08-2014

Căn nhà số 715B HG, Phường 11, Quận X nguồn gốc của ông Trần Long và bà Triều Thị Múi sở hữu. Năm 2009 ông Long và bà Múi tặng cho 3 người con là ông NĐ_Trần Minh Quân, LQ_Trần Minh Nga và BĐ_Trần Minh Đan. Năm 2009 ba anh em của ông NĐ_Quân làm thủ tục cấp giấy chứng nhận QSHNỞ và QSDĐỞ do 3 người đứng tên, đồng thời 3 anh em có ký giấy thỏa thuận nếu sau nầy mà nhà có bán chia hoặc chuyển nhượng cho ai thì mỗi người được hưởng 1/3 giá trị căn nhà. Năm 2012, 03 anh em làm lại thủ tục mỗi người đứng tên giấy chứng nhận QSHNỞ và QSDĐỞ, nhưng sở hữu chung 01 căn nhà số 715B HG, Phường 11, Quận X và ở chung căn nhà nầy. Năm 2012 ông Long chết, năm 2013 bà Múi chết.

141/2014/DS-ST: Tranh chấp tài sản thuộc sở hữu chung

  • 13
  • 1

Tranh chấp tài sản thuộc sở hữu chung

Sơ thẩm
05-06-2014

Theo đơn khởi kiện của bà NĐ_Trần Thanh Linh đề ngày 23/4/2009, đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện đề ngày 06/9/2013, tại bản tự khai và các biên bản hòa giải nguyên đơn bà NĐ_Trần Thanh Linh trình bày: Cha mẹ ruột của bà là ông Trần Văn Út và bà Hồ Thị Ba, khi mẹ bà vừa sinh bà ra được 13 ngày tuổi thì mẹ bà bị bệnh chết nên cha bà là ông Trần Văn Út và cũng là em ruột của bà Trần Thị Viên đã cho bà cho vợ chồng bà Trần Thị Viên và ông Lương Ký làm con nuôi nên ông Ký và bà Viên đem bà về nuôi dưỡng và bà đã sinh sống với ông Ký và bà Viên tại căn nhà số 11 đường THĐ, Phường 13, Quận X cho đến khi ông Ký bà Viên chết

Bản án/Quyết định số: 45/2013/ST - DS

  • 99
  • 8

Tranh chấp tài sản thuộc sở hữu chung

Sơ thẩm
30-05-2013

Căn nhà số S 25/4 TTT, Phường 18, Quận Z có nguồn gốc của cha mẹ ông NĐ_Hà là ông Nguyễn Văn Phú (chết năm 1990) và bà Võ Thị Quý (chết năm 1994). Trong quá trình chung sống thì ông Phú bà Quý sinh được 07 người con là: NĐ_Nguyễn Văn Hà, LQ_Nguyễn Ngọc Hoa, LQ_Nguyễn Ngọc Ngoa, LQ_Nguyễn Văn Sinh, LQ_Nguyễn Ngọc Vương, BĐ_Nguyễn Ngọc Loan, Nguyễn Văn Hùng (đã chết năm 2005), ông Hùng có vợ là bà LQ_Đặng Thị Linh, có 06 người con chung là: LQ_Nguyễn Văn Đan, LQ_Nguyễn Hùng Sang, LQ_Nguyễn Hùng Tú, LQ_Nguyễn Hùng Khoa, LQ_Nguyễn Hùng Việt Luân, LQ_Nguyễn Hùng Thanh Phương.

Bản án/Quyết định số: 117/2013/DS-GĐT

  • 118
  • 9

Tranh chấp tài sản thuộc sở hữu chung

12-09-2013

Năm 1987, cụ Kiều chết, không để lại di chúc. Năm 1989, cụ Thành lập di chúc để lại cho ông BĐ_Lữ được thừa kế căn nhà cùng toàn bộ tài sản, đồ dùng sinh hoạt trong nhà, đồng thời cho bà và cụ Hảo được quyền cư trú trọn đời trong căn nhà nêu trên. Năm 1994, cụ Thành lập di chúc khác có nội dung để lại căn nhà số 416/116 NĐC làm nhà hương hỏa, không hợp thức chủ quyền cho riêng ai; ông BĐ_Lữ và vợ con được sử dụng tầng trệt; bà và cụ Hảo được ở tại tầng lầu cho đến hết đời. Ngày 17/11/1994, cụ Thành chết. Năm 1997, cụ Hảo về Bạc Liêu sống, đến năm 2006 thì chết.