TRA CỨU BẢN ÁN TRỰC TUYẾN & HỢP ĐỒNG MẪU


136/2014/DSST: Tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ

  • 13
  • 2

Tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ

Sơ thẩm
04-06-2014

Vào ngày 02/02/2012, bà NĐ_Phạm Ngọc Thu Hà có ký kết Hợp đồng số 65/HĐMBCH-KH-COTECLAND với BĐ_Công ty TNHH Kim Tú để mua căn hộ số 6A –tầng 15 thuộc dự án chung cư cao tầng Blue Saphire tại số 29 đường Bình Phú, Phường 10, Quận X, Tp.HCM do BĐ_Cty TNHH Kim Tú làm chủ đầu tư. Tại thời điểm ký kết hợp đồng, công trình đã hoàn thành phần móng và đang xây dựng từ tầng 11 trở lên. Theo hợp đồng, BĐ_Công ty Kim Tú bán cho bà NĐ_Hà phần thô căn hộ trên với giá 1.259.527.500 đồng, đã bao gồm giá trị quyền sử dụng đất và thuế giá trị gia tăng, thời điểm dự kiến bàn giao căn hộ thô cho bên mua là tháng 03/2012, trường hợp trễ hạn, bên BĐ_Cty Kim Tú được gia hạn thêm 04 tháng (Điều 7.1).

39/2014/DS-ST: Tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ

  • 25
  • 0

Tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ

Sơ thẩm
31-07-2014

Tại đơn khởi kiện và trình bày của nguyên đơn bà NĐ_Chiếm Thị Tường Hồng: bà NĐ_Hồng có mua của BĐ_Công ty TNHH Địa ốc Gia Ân (gọi tắt là BĐ_Công ty Gia Ân) 02 căn hộ số C6-3 và B4-16 theo Hợp đồng mua bán căn hộ số 2302/2012/HĐMB-GP và số 2302-B/2012/HĐMB-GP. Tuy nhiên do Công ty chậm giao căn hộ nên chấp nhận thanh lý hợp đồng, hoàn trả lại số tiền đã nhận và bồi thường cho bà tại Biên bản thanh lý hợp đồng số 2406/2013/TLHĐ ngày 24/6/2013 với số tiền như sau: + Đối với căn hộ C6-3: 480.000.000 đồng + Đối với căn hộ B4-16: 530.000.000 đồng Tổng số tiền công ty phải thanh toán là 1.010.000.000 đồng, thời hạn tranh toán là 30/6/2013.

106/2015/DS-PT: Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư vô hiệu vì chưa có quyết định phê duyệt của UBND và chưa thi công phần móng

  • 664
  • 94

Tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ

Phúc thẩm
21-01-2015

Ngày 10/3/2010, bà NĐ_Trần Thị Châu Nga và Sàn giao dịch Bất động sản - chi nhánh BĐ_Công ty cổ phần Bất động sản Điện lực Dầu khí Thành Lợi có ký Hợp đồng số 180/HĐBCC-Q2-S.PVPL về việc bán căn hộ số 1106, loại Dl, tầng 11, tòa nhà khối B chung cư Petro VietNam Landmark tại ấp 3, phường An Phú, Quận T, có tổng diện tích sàn là 94,82 m2, giá trị Hợp đồng là 2.224.447.200 (Hai tỷ hai trăm hai mươi bốn triệu bốn trăm bốn mươi bảy nghìn hai trăm) đồng, phương thức thanh toán là ngay khi ký Hợp đồng, bên mua giao cho bên bán 30% giá trị Hợp đồng, Quý II/2010 giao tiếp 30%, Quý IV/2010 giao tiếp 20%, Quý I/2011 giao tiếp 10%, còn 10% sẽ giao nốt khi bên bán bàn giao căn hộ. Việc bàn giao nhà được dự kiến vào Quý IV/2011.

219/2013/DSPT: Áp dụng K8 Đ409 BLDS 2005 về giải thích HĐ mẫu trong tranh chấp mua bán căn hộ tại Cao ốc Good House

  • 612
  • 67

Tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ

Phúc thẩm
04-02-2013

Theo Khoản 4.4 Điều 4 của hợp đồng có quy định Bên A được phép gia hạn thời hạn bàn giao căn hộ tối đa là 06 (sáu) tháng kể từ ngày kết thúc thời hạn bàn giao căn hộ. Vấn đề này được diễn giải tại Khoản 4.4.1 và 4.4.2 nhưng BĐ_Công ty Lê Tuấn không chứng minh được đã có văn bản thông báo về việc kéo dài thời hạn bàn giao căn hộ hoặc do Công ty gặp sự kiện bất khả kháng hoặc xuất phát từ điều kiện kỹ thuật thi công

726/2015/DSPT: Tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ

  • 218
  • 33

Tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ

Phúc thẩm
18-06-2015

Nguyên đơn là bà NĐ_Hà Thị Tố Hân trình bày: Tháng 4/2009 thông qua ông Lương Xuân Tùng bà có lập hợp đồng mua bán tay mua lại căn hộ số 112 M1 chung cư Bình Trưng, phường BHĐ, Quận X với ông BĐ_Lê Văn Mạnh với giá là 600.000.000 đồng, lúc này căn hộ chưa được cấp giấy chứng nhận. Bà đã thanh toán cho ông BĐ_Mạnh đầy đủ tiền theo hợp đồng mua bán, bà cũng đóng đủ số tiền trả góp một lần với công ty Phát triển nhà Quận X (nay là công ty TNHH MTV dịch vụ Quận X). Ngày 04/5/2009 ông BĐ_Mạnh và bà đã đến Phòng công chứng số 2 lập hợp đồng ủy quyền cho phép bà được liên hệ với Công ty Quản lý và Phát triển nhà Quận X và các cơ quan nhà nước để làm thủ tục nộp và nhận giấy chứng nhận đối với căn hộ 112 lô M1 chung cư Bình Trưng. Tuy nhiên khi giấy chứng nhận đã có, bà đã đi tìm ông BĐ_Mạnh tại nơi ông BĐ_Mạnh cư trú trước đây nhưng không gặp được, khu nhà ông BĐ_Mạnh ở đã bị giải tỏa, bà đã làm thủ tục thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo qui định nhưng vẫn không tìm được ông BĐ_Mạnh. Nay bà yêu cầu được nhận giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất và cho phép bà được đứng tên sở hữu đối với căn hộ này