TRA CỨU BẢN ÁN TRỰC TUYẾN & HỢP ĐỒNG MẪU


Bản án/Quyết định số: 900/2010/DS-GĐT

  • 98
  • 23

Ly hôn

24-12-2010

Tại đơn xin ly hôn đề ngày 02/02/2006 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Huỳnh Hữu Chiến (Măng) trình bày: Anh và chị Diễm chung sống như vợ chồng từ năm 1986, không có đăng ký kết hôn. Anh, chị có 3 con chung là Huỳnh Ngọc Thùy sinh năm 1988; Huỳnh Ngọc Thoa sinh năm 1989 và Huỳnh Ngọc Thương sinh năm 1999. Hai anh, chị tạo lập được 3.996m2 đất tại xã PT, huyện NT, hiện do chị Diễm đứng tên, một căn nhà làm nhờ trên đất của chị Huê (là chị gái của anh), một xe ô tô 16 chỗ ngồi; 15.000.000 đồng tiền bán xe Honda Drem và một số tài sản nhỏ khác.

Bản án/Quyết định số: 836/2010/DS-GĐT

  • 56
  • 6

Ly hôn

20-12-2010

NHẬN THẤY: Theo đơn xin ly hôn ngày 05/11/2008 chị Nguyễn Thị Thanh Trà trình bày: chị và anh Ngà tự nguyện yêu thương và cùng chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn ngày 24/10/2000 tại UBND xã Giang Điền, huyện TB. Quá trình chung sống, anh Ngà không quan tâm chăm sóc đến vợ con, sống thiếu trách nhiệm với gia đình và còn có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác. Nay chị không còn tình cảm gì với anh Ngà. Vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau và sống ly thân từ tháng 8/2008 cho đến nay, nên chị yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn. Về con chung: chị yêu cầu được nuôi cả hai con chung là cháu Phạm Duy Phúc sinh ngày 27/9/2002 bị bệnh bại não và cháu Phạm Thanh Vy sinh ngày 16/6/2008. Chị yêu cầu anh Ngà cấp dưỡng cho cháu Phúc mỗi tháng 1.500.000đ cấp dưỡng đến suốt đời và cấp dưỡng cho cháu Vy mỗi tháng 1.000.000đ cho đến khi cháy Vy đến 18 tuổi.

Bản án/Quyết định số: 798/2010/DS-GĐT

  • 60
  • 3

Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

15-12-2010

Theo đơn khởi kiện ngày 07/3/2008 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Thị Thủy trình bày: vào ngày 01/5/2006 bà Nguyên có vay của bà số tiền 300.000.000 đồng, lãi suất là 1,5% một tháng. Bà Nguyên có làm biên nhận nợ và có thế chấp 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD716199 và AD967680 mang tên Nguyễn Quốc Việt. Ngày 18/12/2006 do chưa trả nợ nên bà Nguyên viết một giấy cam kết hẹn ngày 17/01/2007 sẽ trả hết nợ và lãi cho bà. Nhưng đến nay bà Nguyên không thực hiện cam kết trả nợ nên bà yêu cầu bà Nguyên cùng ông Việt liên đới trả số tiền 300.000.000đ vốn và tiền lãi tính theo quy định của pháp luật là 72.967.000đ.

Bản án/Quyết định số: 564/2010/DS-GDT

  • 46
  • 4

Ly hôn

26-08-2010

Tại đơn xin ly hôn đề ngày 25/7/2006 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Đỗ Kim Hoàn trình bày: Chị và anh,Trần Viết Quang kết hôn ngày 24/01/1997, có đăng ký tại ủy ban nhân dân phường MK do tự nguyện, quá trình chung sống hạnh phúc được gần 10 năm, sau đó phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do khi lấy anh Quang thì anh Quang đã có vợ và có các con với vợ trước (vợ trước của anh Quang đã chết), do việc dạy bảo các con của anh Quang không có sự thống nhất giữa chị và anh Quang, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên chị xin được ly hôn.

Bản án/Quyết định số: 32/2010/DS-GĐT

  • 107
  • 8

Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

16-08-2010

Ngày 20/11/2003, cụ Tiềm lập di chúc (có công chứng chứng thực) cho ông BĐ_Tín lô đất thứ nhất. Ngày 03/12/2003, cụ Tiềm chết. Bà NĐ_Trinh và bà NĐ_Duyên khởi kiện cho rằng trong lô đất thứ nhất thì tài sản chung của cụ Phúc, cụ Tiềm chỉ là 400m2, diện tích đất còn lại là do các ông, bà cùng cụ Tiềm khai phá, lấn rộng ra xung quanh, vì vậy, việc cụ Tiềm lập di chúc cho ông BĐ_Tín lô đất này là không đúng; hơn nữa khi lập di chúc cụ Tiềm bị điếc và lú lẫn, nên đi chúc này không hợp pháp. Đối với lô đất thứ 2, ông BĐ_Tín tự ý kê khai đứng tên là không đúng. Do đó, đề nghị Tòa án chia thừa kế cả hai lô đất trên theo quy định của pháp luật; đối với diện tích đất cụ Tiềm, ông BĐ_Tín đã chuyển nhượng cho ông LQ_Bùi Văn Khang thì yêu cầu ông LQ_Bùi Văn Khang trả lại, ông BĐ_Tín có trách nhiệm trả lại tiền cho ông LQ_Khang.