CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI CASELAW VIỆT NAM


05/2012/DS-GĐT: Đòi lại tài sản

  • 52
  • 0

Đòi lại tài sản

15-02-2012

Tại đơn khởi kiện đề ngày 12-9-2006, đơn xin thay đổi yêu cầu khởi kiện đề ngày 24-11-2006 và trong quá trình giải quyết vụ án, bà NĐ_Dương Chiêu Vy, ông NĐ_Đoàn Văn Linh và người đại diện theo ủy quyền của ông NĐ_Linh, bà NĐ_Vy trình bày: Vào năm 1999, bà BĐ_Dương Chiêu Loan và ông LQ_Hoàng Sĩ Hân có nhờ vợ chồng bà NĐ_Vy, ông NĐ_Linh bảo lãnh cho chị LQ_Hoàng Bích Dương (con bà Liên, ông Hải) sang du học tại Úc. Mọi chi phí trong quá trình học tập, đi lại của chị LQ_Dương tại Úc, vợ chồng bà Liên đều mượn tiền của bà NĐ_Vy để chi. Bà NĐ_Vy đã chuyển tiền về cho vợ chồng bà Liên 04 đợt, với số tiền 45.000 đôla Ôxtrâylia (AUD), cộng cước phí 124,30 AUD, tổng cộng là 45.124,30 AUD,

04/2012/DS-GĐT: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán nhà

  • 69
  • 3

Tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán nhà

15-02-2012

Ngày 06-4-2005, bà NĐ_Nan với bà BĐ_Huỳnh Chiêu Vy ký kết Hợp đồng nhận tiền bán nhà, theo đó bà BĐ_Vy đồng ý bán đứt cho bà NĐ_Nan căn nhà số 102 đường THĐ, phường 13, quận T, Thành phố HCM với giá là 3 000 000.000 đồng, bà NĐ_Nan đặt cọc cho bà BĐ_Vy 1.200.000.000 đồng. Hợp đồng nhận tiền cọc bán nhà ngày 06-4-2005 được hai bên ký kết trên cơ sở sự thanh lý 03 hợp động nhận tiền cọc bán nhà trước đó, cụ thể: Ngày 28-11-2003, bà BĐ_Vy với bà NĐ_Nan ký kết Hợp đồng nhận tiền cọc bán nhà (BL. 164) với nội dung: Bà NĐ_Nan đặt cọc cho bà BĐ_Vy số tiền 710.000.000 đồng để mua căn nhà 102-104 THĐ, phường 13, quận T, Thành phốHCM , nếu sau khi đặt cọc bà BĐ_Vy không bán hoặc bán căn nhà này cho người khác thì sẽ phải bồi thường cho bà NĐ_Nan 02 lần số tiền đã đặt cọc. Cùng ngày, bà BĐ_Vy đã lập giây mượn số tiền 710.000.000 đồng (BL.157).

12/2012/DS-GĐT: Đòi lại tài sản

  • 177
  • 15

Đòi lại tài sản

13-01-2012

Theo đơn khởi kiện ngày 30/3/2010 và trong quá trình tố tụng, cụ Trần Thị Xăng và cụ Nguyễn Văn Hiển do bà Nguyễn Thị Ngăn đại diện, trình bày: Do cụ Xăng và cụ Hiển già yếu, không còn sức lao động nên chị Phan Thị Cẩm Vân là cháu ngoại của hai cụ về sống chung nhà, chị Vân hứa với hai cụ sẽ chăm sóc phụng dưỡng hai cụ đến khi qua đời. Vì vậy, hai cụ làm hợp đồng tặng cho chị Vân toàn bộ diện tích đất 297m2 thuộc thửa 574, tờ bản đồ số 16 thị trấn Hậu Nghĩa cùng với nhà cửa gắn liền trên đất vào năm 2007. Thế nhưng sau khi cho đất và nhà xong thì chị Vân ngược đãi, thậm chí đánh đuổi hai cụ ra khỏi nhà, không nuôi dưỡng hai cụ như lời hứa ban đầu.

21/2012/KDTM-ST: Tranh chấp hợp đồng xây dựng

  • 277
  • 26

Tranh chấp hợp đồng xây dựng

Sơ thẩm
26-04-2012

Vào ngày 28/5/2007, Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Thương mại Thuận Phát (nay là NĐ_Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Thương mại Xuất nhập khẩu Trà An) và BĐ_Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sản xuất Thương mại Dịch vụ Quang Anh có ký kết với nhau Hợp đồng kinh tế (V/v Giao nhận thầu xây lắp) số 010/HĐKT. Theo hợp đồng, Công ty Thuận Phát đồng ý giao cho BĐ_Công ty Quang Anh thực hiện xây dựng công trình nhà xưởng nhuộm, dự án di dời và đầu tư chiều sâu Công ty Dệt Kim Đông Phương, tại Khu công nghiệp Xuyên Á, huyện ĐH, tỉnh LA. Công ty Thuận Phát có trách nhiệm cung cấp vật tư, tiền mặt để BĐ_Công ty Quang Anh thực hiện việc thi công công trình.

48/2012/KDTM-ST: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • 377
  • 28

Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Sơ thẩm
26-09-2012

BĐ_Công ty TNHH sản xuất thương mại Hưng Thịnh (sau đây gọi tắt là BĐ_Công ty TNHH sản xuất thương mại Hưng Thịnh) có quan hệ tín dụng với NĐ_Ngân hàng TMCP Ánh Dương như sau: Ngày 27/01/2011 NĐ_Ngân hàng TMCP Ánh Dương cấp tín dụng hạn mức số LCT.DN.01270111 ngày 27/01/2011 là một phần không tách rời của hợp đồng cấp tín dụng hạn mức tín dụng số LCT.DN.01290609/HM ngày 07/7/2009 và hợp đồng cấp tín dụng hạn mức số: 01270710/HM ngày 11/8/2010. Hạn mức tín dụng được cấp là: 3.350.000.000 đồng, hiệu lực của hạn mức là: 12 tháng kể từ ngày ký hợp đồng, mục đích vay là bổ sung vốn kinh doanh.