TRA CỨU BẢN ÁN TRỰC TUYẾN & HỢP ĐỒNG MẪU


442/2014/DS-GĐT: Tranh chấp hợp đồng chơi hụi

  • 0
  • 0

Tranh chấp hợp đồng chơi hụi

19-11-2014

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn chị NĐ_Lữ Ngọc Mai trình bày: Trước đây chị là chủ hụi có mở dây hụi 1.000.000 đồng, và 500.000 đồng, chị BĐ_Phú là hụi viên có tham gia của chị 5 phần hụi 1.000.000 đồng, và 2 dây hụi 500.000 đồng, mỗi dây 2 phần. Tất cả các phần hụi ở các dây hụi chị BĐ_Phú đã hốt hết. Sau đó chị BĐ_Phú có đóng hụi chết được một số tiền rồi ngưng cho đến nay. Quá trình tính toán chị BĐ_Phú ghi có nợ chị số tiền 132.750.000 đồng. Các dây hụi của chị không bị bể và đã mãn. Theo trong sổ chị BĐ_Phú viết ra (chữ viết của chị BĐ_Phú) còn nợ chị số tiền 132.750.000 đồng.

245/2014/DS-GĐT: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • 0
  • 0

Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

11-06-2014

Nguyên đơn - ông NĐ_Vũ Văn Tuấn và bà NĐ_Nguyễn Thị Riêng trình bày: Năm 2004, ông bà vay Ngân hàng 150.000.000 đồng nhưng đến hạn không có khả năng trả nợ gốc và lãi nên ông bà nhờ ông BĐ_Bùi Công Ninh vay tiền để trả nợ Ngân hàng. Ông BĐ_Bùi Công Ninh đã bảo lãnh cho ông bà vay của bà Lê Thị Kim Chi 200.000.000 đồng để trả cho Ngân hàng và lấy giấy tờ đất về. Sau đó, ông bà bảo lãnh cho ông BĐ_Bùi Công Ninh vay Ngân hàng Đầu tư và phát triển BR số tiền 270.000.000 đồng bằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của ông bà. Ông bà có ra ủy ban nhân dân xã ký hợp đồng ủy quyền cho ông BĐ_Bùi Công Ninh vay tiền, không có ký hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 18/10/2007 với ông BĐ_Bùi Công Ninh.

220/2014/DS-GĐT: Tranh chấp quyền sử dụng đất

  • 0
  • 0

Tranh chấp quyền sử dụng đất

09-06-2014

Ngày 3/12/2003 ông BĐ_Tâm bán cho ông phần đất cây lâu năm có kích thước ngang 10m, dài 40m bằng 400m2; vị trí đất bên trái giáp ranh với đất của ông Huỳnh Thanh Khương, bên phải giáp ranh đất của ông BĐ_Tâm với giá 9.200.000đ. Hai bên có làm giấy viết tay, có bà BĐ_Phạm Thị Tình (vợ của ông BĐ_Tâm) cùng chứng kiến và ký tên trong hợp đồng. Sau đó, ông tiến hành các thủ tục chuyển nhượng đất theo quy định luật đất đai và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ông BĐ_Tâm, bà BĐ_Tình cùng các con ông bà ký. Đến ngày 14/02/2006 ông được ủy ban nhân dân huyện PH cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

217/2014/DS-GĐT: Đòi lại quyền sử dụng đất

  • 0
  • 0

Đòi lại quyền sử dụng đất

05-06-2014

Theo Đơn khởi kiện ngày 20/7/2006 của ông NĐ_Nguyễn Văn Hào, Đơn khởi kiện ngày 30/3/2012 của nhũng người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông NĐ_Nguyễn Văn Hào và trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện cho nguyên đơn và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Hoàng Nga trình bày: Ông NĐ_Nguyễn Văn Hào, sinh năm 1927, chết ngày 13/10/2011. Lúc còn sống có đứng đơn khởi kiện bà BĐ_Nguyễn Thị Tâm về việc yêu cầu buộc bà BĐ_Tâm phải trả cho ông NĐ_Hào 230m2 đất thuộc thửa 928 tọa lạc tại ấp Tân Phú 2, xã TTB, huyện CG, tỉnh TG. Phần đất nêu trên nằm trong tổng diện tích 4.500m2 có nguồn gốc của cụ Nguyễn Văn Tiên cho ông NĐ_Nguyễn Văn Hào và bà Phan Thị Ảnh (vợ ông NĐ_Hào) canh tác từ năm 1966. Ông NĐ_Hào là người đứng tên kê khai thửa đất này theo chứng khoán ngày 18/7/1972 (thửa số 1023M tờ bản đồ số 135, diện tích 0,48ha).

216/2014/DS-GĐT: Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

  • 1
  • 0

Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

05-06-2014

Theo đơn khởi kiện ngày 10/9/2011 nguyên đơn là bà NĐ_Hoàng Thi Hoa trình bày: Theo tiêu chuẩn cấp đất của địa phương thì mỗi khẩu làm nông nghiệp được địa phương giao 13 thước đất lúa (9 thước cấp theo tiêu chuẩn, 2 thước cấp theo diện khoán ngoài thuộc xứ Đồng Trôi) và 02 thước đất 10% (đất rau) (trước năm 1986 mỗi khẩu chỉ được giao 1,7 thước đất 10%, sau năm 1986 chia thêm mỗi người 0,3 thước là 2 thước đất 10%). Do bà là đối tượng độc thân, tàn tật không chồng, con, chung hộ khẩu với gia đĩnh: gồm cha mẹ bà là cụ Đệ và em trai là ông BĐ_Chiến nên địa phương không cấp thêm 02 thước đất khoán ngoài ở xứ Đồng Trôi mà chỉ chia cho bà 1,7 thước đất % và 9 thước đất lúa. Tiêu chuẩn đất lúa của bà được giao chung cùng hộ gia đình ông BĐ_Chiến, đến nay gia đình ông BĐ_Chiến vẫn làm phần ruộng của bà.