MỚI Ra mắt Giao diện mới cho trang Tra cứu mã HS – nhanh và thuận tiện Trải nghiệm ngay
Mới cập nhật
18/10/2017

15/2013/KDTM-ST: Tranh chấp hợp đồng tư vấn bảo lãnh và phát hành chứng khoán

Tác giả: CaselawVN
  • Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
  • Vụ việc, Vụ án: Tranh chấp hợp đồng tư vấn bảo lãnh và phát hành chứng khoáng
  • Loại vụ việc: Sơ thẩm
  • Cơ quan xét xử: TAND cấp huyện
  • Số hiệu: 15/2013/KDTM-ST
  • Ngày tuyên án: 30-12-2013
  • Ngày thụ lý: 13/07/2012
  • Kết quả vụ việc: Chấp nhận 1 phần
  • Link thay thếhttps://caselaw.vn/ban-an/IJm4vAO7Ro
  • Lưu ýTại phiên tòa phúc thẩm diễn ra ngày 03/6/2014, Hội đồng xét xử đã có kết luận sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của GMC về việc yêu cầu SHS phải mua lại 50% số lượng cổ phần mà GMC không bán hết cho cổ đông hiện hữu là 3.523.842 cổ phiếu x 12.000 đồng/1 cổ phiếu.
  • ----------------------------------------------------------

Trong ngày 23/12/2013 và ngày 30/12/2013, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 24/2012/TLST-KDTM ngày 13 tháng 7 năm 2012 , theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/QĐXX ngày 04 tháng 12 năm 2013 về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ tư vấn và bảo lãnh phát hành chứng khoán”, giữa:

Nguyên đơn:

Công ty cổ phần ô tô Giải Phóng (GMC)

Trụ sở: khu kinh tế cửa khẩu Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.

Do ông Nguyễn Cương - Chủ tịch HĐQT làm đại diện theo pháp luật.

Đại diện theo ủy quyền ông Phạm Nguyên Hoàng - Cán bộ Công ty (theo giấy ủy quyền lập ngày 21/8/2012).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:

Luật sư Vũ Thị Kim Ngọc - Văn phòng Luật sư Hưng Giang - Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Công ty cổ phần ô tô Giải Phóng.

Bị đơn:

Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS).

Trụ sở: tầng 1, 3 trung tâm Hội nghị Công đoàn, số 1 phố Yết Kiêu, Hoàn kiếm, Hà Nội.

Do ông Hoàng Đình Lợi - Tổng giám đốc làm đại diện theo pháp luật.

Đại diện theo ủy quyền ông Vũ Đức Tiến - Phó Tổng giám đốc kiêm Chánh văn

phòng Hội đồng quản trị (theo giấy ủy quyền lập ngày 27/7/2012).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn:

Luật sư Phạm Quang Hòa - Văn phòng luật sư Nguyễn Huy Thiệp và cộng sự - Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội.

Người làm chứng: Ông Nguyễn Quang Vinh.

Trú tại: số 22 Mạc Đĩnh Chi, phường Trúc Bạch, Ba Đình, Hà Nội.

Nguyên Tổng giám đốc Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội.

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện của Công ty cổ phần ô tô giải phóng (GMC) ngày 19/6/2012; các lời khai của nguyên đơn và Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đã trình bày tại Tòa án có nội dung như sau:

Ngày 15/6/2010 Công ty cổ phần ô tô Giải Phóng (gọi tắt là CMC) và Công ty chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (gọi tắt là SHS), ký Hợp đồng dịch vụ tư vấn và bảo lãnh phát hành cổ phiếu số 273/2010/HĐTV & BL - SHS. Theo đó:

Công ty SHS nhận trách nhiệm thực hiện các công việc liên quan đến tư vấn tài chính và phát hành cổ phiếu phù hợp với tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp; nhận bảo lãnh phát hành cổ phièu phát hành thêm của Doanh nghiệp.

Phương thức bảo lãnh: mua toàn bộ số cổ phiếu phát hành còn lại chưa được phân phối hết sau khi thực hiện đầy đủ các bước chào bán cần thiết theo phương thức phát hành.

Việc bảo lãnh phát hành phải được hai bên thống nhất, ký kết thành từng Hợp đồng cam kết riêng, với hình thức và thẩm quyền ký tương ứng với Hợp đồng. Nếu có mâu thuẫn hoặc cách hiểu trái ngược giữa các bản Hợp đồng cam kết riêng với Hợp đồng thì áp dụng theo Hợp đồng cam kết ký sau”.

Trên cơ sở đó, ngày 04/10/2010 Công ty cổ phần ô tô Giải Phóng và Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội, ký “Cam kết bảo lãnh" phát hành cổ phiếu của Công ty cổ phần ô tô Giải Phóng. Cam kết có nội dung:

Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội nhận bảo lãnh phát hành cổ phiếu theo phương thức - bên nhận bảo lãnh cam kết mua toàn bộ số cổ phần chào bán theo phương án phát hành và kết thúc thời hạn chào bán theo quy định của pháp luật; với giá 12.000/cổ phần.

Thời hạn phân phối: Trong vòng 90 ngày kể từ ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký phát hành do Uỷ Ban chứng khoán nhà nước cấp.

Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hết hạn thu tiền của cổ đông hiện hữu, Công ty chứng khoán Sài Gòn - Hà nội sẽ thanh toán cho Công ty cổ phần ô tô Giãi Phóng đầy đủ số tiền mua cổ phần bảo lãnh mà Công ty SHS được hưởng theo Hợp đồng tư vấn bảo lãnh mà hai bên đã ký kết và một số điều khoản khác.

Quá trình thực hiện cam kết:

Dựa trên kết quả tư vấn của Công ty SHS - theo Hợp đồng dịch vụ tư vấn số 273/HĐTV ngày 15/6/2010 Công ty GMC được ủy Ban chứng khoán nhà nước cấp Giấy chứng nhận chào bán cổ phiếu ra công chúng số 720/UBNCK GCN ngày 29/10/2010. Chứng nhận rằng:

Công ty cổ phần ô tô Giải Phóng được đăng ký chào bán ra công chúng 9.013.945 cổ phiếu; trong đó 7.211.047 cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu; 1.802.898 cổ phiếu cho đối tác chiến lược.

Thời hạn phân phối: 90 ngày (kể từ ngày cấp giấy chứng nhận). Tổ chức tư vấn phát hành: Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội.

Trên cơ sở giấy chứng nhận chào bán cổ phần này, thực hiện cam kết bảo lãnh phát hành cổ phiếu giữa Công ty GMC và Công ty SHS, ngày 04/10/2010: Công ty SHS đã tiến hành chào bán cổ phần của Công ty GMC, với đầy đủ các bước chào bán theo phương thức phát hành.

Tuy nhiên, hết thời hạn phân phối theo giấy chứng nhận số 720/UBNCK-GCN ngày 29/10/2010 (90 ngày và thời gian gia hạn giấy chứng nhận chào bán cổ phiếu tại quyết định số 1112/QĐ-UBNCK ngày 27/12/2010 (30 ngày) - đến hết ngày 29/02/2011 phải hoàn thành việc phân phối cổ phiếu. Nhưng kết thúc đợt chào bán, số cổ phiếu được bán cho cổ đông hiện hữu chỉ có 163.362 cổ phiếu.

Như vậy, số cổ phiếu chào bán hiện hữu còn lại không được phân phối hết là 7.047.685 cổ phiếu.

Căn cứ, điều 2 - “Cam kết bảo lãnh” ngày 04/10/2010 giữa Công ty GMC và Công ty SHS có nghĩa vụ “mua toàn bộ số cổ phần chào bán cho cổ đông hiện hữu còn lại không phân phối hết với mức giá 12.000/1 cổ phần”.

Công ty GMC đã rất nhiều lần trực tiếp và bằng văn bản yêu cầu Công ty SHS thực hiện nghĩa vụ theo điều 2 - Cam kết bảo lãnh ngày 04/10/2010. Tuy nhiên, đến thời điểm này Công ty SHS không thực hiện.

Thực hiện quyền của mình theo cam kết, GMC đã có văn bản đề nghị ủy ban chứng khoán Nhà nước can thiệp, đưa ra hướng giải quyết vụ việc nêu trên, ngày 02/08/2011 UBCK nhà nước có công văn số 335/UBCK-TT cho rằng GMC cần tiến hành giải quyết tranh chấp với Công ty SHS tại Tòa án theo Hợp đồng và cam kết bảo lãnh ký kết giữa hai bên.

Do vậy, căn cứ điều 29, 30, 35, 36 - BLTTDS, Công ty cổ phần ô tô Giải Phóng kính đề nghị Tòa án thụ lý, giải quyết vụ việc theo trình tự thủ tục giải quyết vụ án kinh doanh thương mại. Buộc Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội thực hiện phần nghĩa vụ theo điều 2 - Cam kết bảo lãnh ngày 04/10/2010 giữa Công ty SHS và Công ty GMC, cụ thể:

1/ Công ty SHS có trách nhiệm phải mua toàn bộ số cổ phần chào bán cho có đóng hiện hữu còn lại không phân phối hết. Với mức giá 12.000/1 cổ phần. Tuy nhiên, với thiện chí chia sẻ khó khăn do ảnh hưởng khủng hoảng thị trường; Vì quan hệ hợp tác thân thiện lâu dài giữa hai bên. Bằng đơn khởi kiện này Công ty GMC yêu cầu Công ty SHS thực hiện 50% trách nhiệm của mình: mua 3.523.842 cổ phiếu x 12.000/1 cổ phiếu = 42.861.100.000 (bốn mươi hai tỷ tám trăm sáu mươi mốt triệu một trăm đồng).

2/ Yêu cầu Công ty SHS có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại do lỗi vi phạm cam kết – Công ty SHS đã đẩy Công ty GMC vào tình trạng ngừng trệ sản xuất, gia tăng nợ lãi ngân hàng..., gây thiệt hại nghiêm trọng cho Công ty GMC.

Ngày 07/5/2013 GMC có đơn xin rút yêu cầu SHS bồi thường thiệt hại mà chỉ yêu cầu SHS phải mua lại 50% số cổ phần mà GMC chưa bán hết là 3.523.842 cổ phiếu x 12.000/1 cổ phiếu = 42.861.100.000 (bốn mươi hai tỷ tám trăm sáu mươi mốt triệu một trăm đồng).

Tại phiên tòa: GMC và luật sư của GMC vẫn giữ nguyên yêu cầu nêu trên.

Ý kiến của công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS) và Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn:

Ngày 15/06/2010, Công ty SHS và Công ty GMC ký kết Hợp đồng dịch vụ tư vấn và Bảo lãnh phát hành cổ phiếu số 273/2010/HĐ7V&BL-SHS (Hợp đồng). Ngày 04/10/2010, Công ty SHS và Công ty GMC tiếp tục ký Cam kết bảo lãnh phát hành. Theo hai văn bản này, SHS sẽ tư vấn GMC thực hiện phát hành cổ phiếu, đồng thời SHS bảo lãnh phát hành cổ phiếu của GMC với nội dung: SHS sẽ mua toàn bộ số cổ phiếu không phân phối hết cho cổ đông hiện hữu của GMC trong đợt phát hành này.

Ngày 29/10/2010, GMC được ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp Giấy chứng nhận đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng số: 720/UBCKNN-GCN. Giấy chứng nhận này có hiệu lực đến hết tháng 01/2011, sau đó được gia hạn đến hết ngày 28/02/2011.

Đầu tháng 03/2011, CMC yêu cầu SHS thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, tuy nhién, đến thời điểm này đã hết hiệu lực của Giấy chứng nhận đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng (kể cả thời hạn được phép gia hạn hiệu lực theo quy định). Do vây, SHS không có căn cứ pháp lý để thực hiện yêu cầu của GMC.

Ngày 19/06/2012, GMC khởi kiện SHS tại Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm yêu cầu SHS phải mua lại 50% số cổ phần mà GMC không bán hết cho cổ đông hiện hữu là 3.523.842 cổ phiếu x 12.000/1 cổ phiếu = 42.861.100.000 (bốn mươi hai tỷ tám trăm sáu mươi mốt triệu một trăm đồng).

Theo các tài liệu có trong hồ sơ của tòa án , SHS trình bày quan điểm về yêu cầu khởi kiện của GMC là SHS không thể thực hiện cam kết bảo lãnh mà hai bên đã ký ngày 04/10/2010 vì thời gian hết hạn phát hành chứng khoán của GMC là ngày 28/02/2011 nhưng đến ngày 03/3/2011 thì GMC mới yêu cầu SHS mua lại số cổ phần chưa bán hết cho cổ đông hiện hữu và cho rằng ông Nguyễn Quang Vinh ký hợp đồng tư vấn bảo lãnh phát hành chứng khoán cũng như cam kết bảo lãnh với GMC là vượt quá thẩm quyền. Ngoài ra SHS còn đưa ra yêu cầu phản tố đề nghị GMC phải thanh toán 72.000.000đ (bảy mươi hai triệu đồng) phí tư vấn theo hợp đồng tư vấn bảo lãnh phát hành chứng khoán mà hai bên đã ký kết.

Tại phiên tòa: SHS thừa nhận ông Nguyễn Quang Vinh - Tổng giám đốc công ty SHS ký hợp đồng tư vấn bảo lãnh phát hành chứng khoán với ông Nguyễn Cương - Tổng giám đốc Công ty GMC là đúng thẩm quyền. Hai bên có ký hợp đồng tư vấn và bảo lãnh phát hành chứng khoán và cam kết bảo lãnh như GMC trình bày. Lý do SHS không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của GMC vì SHS cho rằng GMC yêu cầu SHS phải mua lại cổ phiếu không bán hết cho cổ đông hiện hữu ngoài thời hạn GMC được phát hành cổ phiếu theo giấy phép phát hành cổ phiếu mà UBCK Nhà nước cấp cho GMC. SHS đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của GMC.

Công ty SHS có ý kiến về khoản tiền dich vụ tư vấn mà công ty GMC chưa thanh toán nốt cho công ty SHS hai bên sẽ tự giải quyết, nếu không giải quyết được sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.

Tại phiên tòa, ông Nguyễn Quang Vinh - người làm chứng vắng mặt. Ông có lời khai thể hiện trong hồ sơ như sau:

Tháng 6/2010 giữa GMC và SHS có ký Hợp đồng dịch vụ tư vấn và bảo lãnh phát hành cổ phiếu, tháng 10/2010 hai bên ký Cam kết bảo lãnh phát hành cổ phiếu. Sau khi xem xét tôi thấy hợp đồng chưa có dấu hiệu vô hiệu nhưng Cam kết bảo lãnh phát hành cổ phiếu chúng tôi thấy đại diện cùa GMC ký không đúng thẩm quyền theo quy định. Lý do là theo quy định mẫu Cam kết bảo lãnh của UBCK Nhà nước thì thẩm quyền ký cam kết phải là người đại diện theo pháp luật nhưng ông Nguyễn Cương ký cam kết với chức danh Tổng giám đốc, trong khi điều lệ của GMC thì người đại diện theo pháp luật là Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Đối với hợp đồng tư vấn dịch vụ tư vấn bảo lãnh và phát hành cổ phiếu thì SHS đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng, cho đến nay GMC mới tạm ứng 60.000.000đ tiền phí, tổng phí hợp đồng tư vấn là 132.000.000đ (gồm cả VAT). Nay SHS có quyền yêu cầu GMC phải thanh toán nốt số tiền phí còn lại. Về phí bảo lãnh phát hành cổ phiếu thì do SHS chưa thực hiện công việc này nên không phát sinh phí.

Khi phát hành cổ phiếu, GMC phải có nghĩa vụ theo dõi tình hình và kết quả thực hiện quyền mua cổ phiếu của cổ đông hiện hữu. GMC phải có nghĩa vụ thông háo kết quả chào bán cổ phiếu cho bên bảo lãnh phát hành. Phía GMC có nghĩa vụ cung cấp các thông tin cần thiết để SHS thực hiện các nghĩa vụ của mình theo cam kết. SHS không có nghĩa vụ phải phối hợp với GMC để nắm bắt thông tin về kết quả chào bán cổ phiếu. Chỉ có hai đơn vị là tổ chức phát hành (GMC) và Trung tâm lưu ký chứng khoán mới có được thông tin về kết quả việc chào bán cho cổ đông hiện hữu, Vì vậy trong thời hạn của giấy phép thì bên GMC phải có nghĩa vụ thông báo cho SHS về nghĩa vụ bảo lãnh (nếu có) theo cam kết.

Thòi điểm thực hiện việc bảo lãnh là khi tổ chức phát hành thông báo về việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh cho bên bảo lãnh, tức là thông báo số lượng cổ phiếu chưa chào bán hết cho cổ đông hiện hữu mà tổ chức bảo lãnh phải mua. Tuy nhiên thời hạn bảo lãnh phải nằm trong thời hạn có hiệu lực của giấy phép phát hành do UBCK Nhà nước cấp.

Trong thực tế GMC thông báo nghĩa vụ bảo lãnh cho SHS theo công văn số 03/2011/CV GMC ghi ngày 03/3/2011 (SHS nhận được công văn này vào ngày 07/3/2011), trong khi hiệu lực cuối cùng của giấy phép sau khi đã được gia hạn là ngày 20/02/2011. Như vậy đã hết thời gian để SHS thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.

Lý do SHS không thực hiện việc bảo lãnh cổ phiếu là vì Giấy phép chào bán chứng khoán được cấp đã hết thời hạn.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm:

Về thủ tục tố tụng: Toà án thụ lý và giải quyết vụ án Tranh chấp Hợp đồng dịch vụ tư vấn bảo lãnh phát hành chứng khoán là đúng thẩm quyền. Quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng trình tự tố tụng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên vụ án còn vi phạm thời gian chuẩn bị xét xử theo quy định tại điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên toà: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ những quy định của pháp luật về thủ tục tố tụng từ khi khai mạc phiên toà, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, giải quyết hết các yêu cầu khởi kiện cùa nguyên đơn và các ý kiến phản bác của bị đơn. Việc người làm chứng vắng mặt tại phiên toà nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt và có lời khai tại Toà án, các đương sự đều đề nghị HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng nên việc Tòa án xét xử vắng mặt ông Vinh là đúng quy định của pháp luật.

XÉT THẤY

Sau khi nghe lời trình bày, cũng như tranh luận của các đương sự và xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về thủ tục tố tụng:

Ngày 25/6/2012. Công ty cổ phần ô tô Giải Phóng nộp đơn khởi kiện Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội về Tranh chấp hợp đồng dịch vụ tư vấn về bảo lãnh phát hành chứng khoán. Đây là vụ án tranh chấp về kinh doanh thương mại. Căn cứ điểm m khoản 1 điều 29, điều 33, điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Về thời hiệu khởi kiện: Tháng 3/2011 giữa GMC và SHS tranh chấp về nghĩa vụ bảo lãnh thì đến tháng 6/2012 GMC khởi kiện. Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ điều 319 Luật Thương mại 2005 thể hiện Công ty cổ phần ô tô Giải Phóng khởi kiện vụ án khi thời hiệu khởi kiện vẫn còn.

Ông Nguyễn Quang Vinh, nguyên tổng giám đốc SHS được Tòa án xác định là nhân chứng, Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Vinh đến tham gia phiên tòa, nhưng ngày 17/12/2013 ông Vinh có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị tòa án xét xử vắng mặt ông, ông Vinh đã có lời khai tại tòa án, các đương sự đồng ý xét xử vắng mặt ông Vinh và đại diện Viện kiểm sát cũng đồng ý để Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa, nên hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Vinh là đúng quy định pháp luật.

2. Về nội dung tranh chấp:

Khi nộp đơn khởi kiện GMC kiện SHS hai nội dung đó là:

Công ty SHS có trách nhiệm phải thực hiện 50% trách nhiệm bảo lãnh của mình: mua 3.523.842 cổ phần x 12.000/1 cổ phần = 42.861.100.000 (bốn mươi hai tỷ tám trăm sáu mươi mốt triệu một trăm đồng).

Yêu cầu Công ty SHS có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại do lỗi vi phạm cam kết.

Ngày 07/5/2013 GMC có đơn xin rút yêu cầu SHS bồi thường thiệt hại mà chỉ yêu cầu SHS phải mua lại 50% số cổ phần mà GMC chưa bán hết là 42.861.100.000đ. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét yêu cầu của GMC buộc SHS bồi thường thiệt hại do vi phạm cam kết nữa.

Về phía Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội trong quá trình giải quyết vụ án có đưa ra yêu cầu phản tố đề nghị GMC phải thanh toán 72.000.000đ (bảy mươi hai triệu đồng) phí tư vấn theo hợp đồng tư vấn bảo lãnh phát hành chứng khoán mà hai bên đã ký kết. Nhưng sau đó SHS đã không thực hiện việc nghĩa vụ của người có yêu cầu phản tố .Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền và Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của SHS cũng đồng ý tách riêng yêu cầu này để giải quyết sau khi hai bên không thỏa thuận được với nhau về việc thực hiện nghĩa vụ.

Về phía GMC có ý kiến sẽ thực hiện nốt nghĩa vụ thanh toán cho SHS số tiền tư vấn phát hành cổ phiếu theo hợp đồng đã ký.

Xét thấy: Ý kiến của hai bên đương sự không trái với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Tòa án không xem xét giải quyết số tiền phí tư vấn phát hành cổ phiếu mà GMC chưa thanh toán hết cho SHS, hai bên tự thỏa thuận, nếu không hòa giải thành SHS được quyền yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác.

Quá trình Hội đồng xét xử hỏi tại phiên tòa các bên đương sự đều xác nhận hình thức, nội dung, thẩm quyền ký kết Hợp đồng dịch vụ tư vấn và bảo lãnh phát hành cổ phiếu số 273/2000/HĐTV&BL-SHS ngày 15/6/2000 và Cam kết bảo lãnh phát hành cổ phiếu được ký ngày 04/10/2000 giữa Công ty cổ phần ô tô Giải Phóng và Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội do ông Nguyễn Cương – Tổng giám đốc đại diện kiêm Chủ tịch HĐQT GMC và ông Nguyễn Quang Vinh – Tổng giám đốc SHS đại diện ký là phù hợp quy định của pháp luật và điều lệ của công ty.

Căn cứ vào điều 111, 116 Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán, Điều lệ Công ty GMC và Công ty SHS, HĐXX công nhận Hợp đồng dịch vụ tư vấn và bảo lãnh phát hành cổ phiếu số 273/2000/HĐTV&BL-SHS ngày 15/6/2000 và Cam kết bảo lãnh phát hành cổ phiếu được ký ngày 04/10/2000 giữa Công ty cổ phần ô tô Giải Phóng và Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội do ông Nguyễn Cương – Tổng giám đốc đại diện kiêm Chủ tịch HĐQT GMC và ông Nguyễn Quang Vinh – Tổng giám đốc SHS đại diện ký là đúng quy định của pháp luật và điều lệ của hai công ty.

Tại phiên tòa các đương sự đều thừa nhận hai bên đều thực hiện đúng những quy định tại hợp đồng, quá trình thực hiện không xảy ra tranh chấp, chỉ đến khi Công ty GMC phát hành cổ phiếu cho các cổ đông hiện hữu không hết nên yêu cầu SHS thực hiện việc cam kết bảo lãnh theo quy định tại điều 2 của hợp đồng và điều 2 của bản cam kết, do SHS từ chối nghĩa vụ nên đã nảy sinh tranh chấp giữa hai bên mà không tự giải quyết được.

Nay Công ty GMC buộc SHS phải thực hiện 50% nghĩa vụ bảo lãnh với số cổ phiếu là 7.047.615 cổ phiếu: 2 x 12.000/cổ phần = 42.861.000.000đ.

Về phía SHS không chấp nhận với lý do:

Tại Giấy chứng nhận chào bán cổ phiếu ra công chứng số 720/UBCKNN-GCN ngày 29/10/2010 do Ủy ban chứng khoán nhà nước cấp cho Công ty GMC và Giấy chứng nhận gia hạn số 1112/QĐ-UBNCK ngày 27/12/2010 thì đến ngày 29/12/2011 là hết đợt phát hành chào bán cổ phiếu cho cổ đông chiến lược, đến ngày 15/6/2010 GMC mới thông báo cho SHS yêu cầu thực hiện cam kết bảo lãnh thì thời hạn theo Giấy chứng nhận phát hành cổ phiếu đã hết, SHS không thể thực hiện được nghĩa vụ của mình.

Đồng thời quá trình thực hiện hợp đồng thị trường cổ phiếu của GMC có chiều hướng biến động giảm nhưng GMC khống phối hợp cùng SHS để điều chỉnh giá, do vậy làm cho SHS không thực hiện được quyền miễn trừ nghĩa vụ theo điểm 7.3.1 của hợp đồng.

Vì những lý do đó SHS không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của GMC. Về ý kiến của bị đơn; HĐXX thấy rằng:

Tại bản hợp đồng ,điều 2.1.2 về nội dung bảo lãnh phát hành có quy định phương thức bảo lãnh: SHS mua toàn bộ cổ phiếu phát hành còn lại (của doanh nghiệp) chưa được phân phối hết khi đã thực hiện đầy đủ các bước chào bán cần thiết theo phương án phát hành.

Tại điều 2 cùa bản Cam kết bảo lãnh phát hành cổ phiếu được ký giữa GMC và SHS có quy định phương thức bảo lãnh: Bên bảo lãnh nhận phát hành cổ phiếu theo phương thức, bên bảo lãnh cam kết mua toàn bộ số cổ phần chào bán cho cổ đông hiện hữu còn lại không được phân phối hết sau khi đã thực hiện đầy đủ các bước chào bán theo phương thức phát hành và kết thúc thời hạn chào bán theo quy định của pháp luật với mức giá 12.000/cổ phần; như vậy có thể hiểu về phía trách nhiệm của bên bảo lãnh (SHS) đã cam kết với GMC là sẽ mua lại toàn bộ số cổ phiếu chào bán cho cổ đông hiện hữu không được phân phối hết; căn cứ tài liệu có trong hồ sơ và xác nhận của hai bên thì đến ngày 28/02/2011 kết thúc thời hạn GMC được phát hành cổ phiếu theo quyết định chấp nhận gia hạn số 1112 QĐ-UBCk ngày 27/12/2010 của ủy ban chứng khoán Nhà nước thì GMC mới bán được 163.362 cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, còn lại 7.047.685 cổ phiếu chưa được phân phối hết, như vậy theo những điều khoản viện dẫn ở trên mà hai bên đã ký trong Hợp đồng và Cam kết bảo lãnh thì công ty SHS phải thực hiện nghĩa vụ cam kết bảo lãnh mua lại số cổ phiếu của GMC chưa được phân phối hết cho cổ đông hiện hữu.

Tuy nhiên căn cứ vào điều 2.4 điều 2 của Hợp đồng dịch vụ tư vấn và bảo lãnh phát hành cổ phiếu số 273 ngày 15/06/2010 có quy định về phạm vi công việc tại hợp đồng không bao gồm các công việc và chi phí phát sinh sau khi việc phát hành đã kết thúc theo đúng thời hạn cuối cùng trong phương án phát hành và báo cáo kết quả phát hành đã được cơ quan quản lý có thẩm quyền chấp thuận. Với quy định này thì hai bên cần phải xác định rõ với nhau đó là những công việc gì, thời hạn cam kết bảo lãnh có nằm trong thời hạn quy định của điều này không, nhưng do hai bên đã không xác định rõ nên lỗi dẫn đến việc hiểu không thống nhất thời hạn phải thực hiện cam kết.

Tại cv số 299A1BCK-TT ngày 18/11/2013 của ủy ban chứng khoán Nhà nước trả lời công văn của Tòa án NDQ Hoàn Kiếm có đoạn như sau: “....pháp luật về chứng khoán hiện chưa có quy định cụ thể về thời điểm thực hiện cam kết bảo lãnh phát hành. Do vậy để đảm bảo quyền lợi của GMC và SHS trong tranh chấp về bảo lãnh phát hành cần xem xét nội dung hợp đồng, cam kết bảo lãnh phát hành và các văn bản khác ký kết giữa các bên...”.

Mặt khác, do hai bên đều có lời khai trong quá trình phát hành cổ phiếu hai bên đều không thể biết được số cổ phiếu đã bán cho cổ đông hiện hữu là bao nhiêu, chỉ đến khi Trung tâm lưu ký chứng khoán tổng hợp danh sách các cổ đông đã mua và thông báo lại cho GMC và GMC báo lại cho SHS thì lúc đó SHS mới biết được số lượng cổ phiếu của GMC đã bán cho cổ đông hiện hữu. Bởi vậy lỗi của hai bên là không thường xuyên cập nhật thông tin tại Trung tâm lưu ký chứng khoán để biết được kết quả số lượng cổ phiếu của GMC đã được bán cho cổ đông hiện hữu của GMC. Tuy nhiên theo các tài liệu thể hiện GMC là tổ chức phát hành nên phải biết rõ hơn số lượng cổ phiếu của mình được bán ra do Trung tâm lưu ký chứng khoán cung cấp. Vì vậy khi thời hạn mua cổ phiếu của các cổ đông hiện hữu chấm dứt vào ngày 18/02/2011 thì GMC cần thông báo cho SHS biết để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của mình.

Theo quy định tại điều 7.3.1 của Hợp đồng thì nếu thị trường cổ phiếu có biến động thì hai bên phải chủ động bàn bạc để điều chỉnh giá, chứ không chỉ một mình GMC phải có trách nhiệm chủ động trong việc thông báo, yêu cầu SHS bàn bạc điều chinh giá. SHS cho rằng CMC đã không chủ động trong vấn đề này làm mất đi quền xem xét miễn trừ trách nhiệm theo điều 7.3.1 của Hợp đồng là không phù hợp với nội dung của điều khoản quy định trong Hợp đồng.

Từ phân tích trên HĐXX thấy rằng, về hình thức nội dung Hợp đồng và Cam kết bảo lãnh phát hành cổ phiếu được ký giữa GMC và SHS là đúng quy định pháp luật Chứng khoán, hai bên chỉ tranh chấp việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Qua phân tích thì thấy cả hai bên đều có lỗi trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình nhưng do GMC đã không chủ động nắm bắt số lượng cổ phiếu không bán hết để báo cho SHS thực hiện nghĩa vụ khi thời hạn phát hành vẫn còn nên GMC phải chịu 70% lỗi, SHS phải chịu 30% lỗi với số lượng cổ phiếu không bán được là 7.047.685 cổ phiếu. Với 30% lỗi thì SHS phải có trách nhiệm thực hiện phần cam kết bảo lãnh của mình là phải mua 2.114.305 cổ phiếu của GMC với giá 12.000đ/cổ phần = 25.371.666.000đ. Đây là giá trị số lượng cổ phần của GMC mà SHS phải thực hiện nghĩa vụ cam kết bảo lãnh.

Các yêu cầu khác của hai bên đương sự không có cơ sở nên HĐXX không chấp nhận.

Về án phí KDTM sơ thẩm theo quy định của pháp luật, SHS phải chịu án phí đối với phần giá trị cổ phần phải thực hiện cam kết bảo lãnh ,GMC phải chịu án phí đối với phần giá trị yêu cầu không được Tòa án chấp nhận.

Bởi các lẽ trên;

Áp dụng:

 

  • Điểm m khoản 1 điều 29, điểm b khoản 1 điều 33, điều 243, 245 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2005, sửa đổi bổ sung năm 2011;
  • Khoản 14, 22 điều 6 Luật Chứng khoán;
  • Điều 319 Luật Thương mại 2005;
  • Điều 6, điều 7, điều 9 và điều 30 luật Thi hành án
  • Pháp lệnh số về án phí lệ phí Tòa án số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/2/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
  • Thông tư liên tịch số 01 ngày 19/6/1997 của TATC-V KSNDTC- BTP- BTC hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản.

Xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện cùa Công ty cổ phần ô tô Giải Phóng đối với Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội;

Buộc Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội phải thực hiện một phần cam kết bảo lãnh phát hành cổ phiếu của Công ty cổ phần ô tô Giải Phóng với nghĩa vụ thưc hịện việc bảo lãnh với số lượng cổ phiếu là 2.114.305 cổ phiếu có giá trị là 371.666.000đ (hai mươi lăm tỷ ba trăm bảy mươi mốt triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).

Hai bên thực hiện việc chuyển nhượng cổ phiếu theo quy định của pháp luật Chứng khoán:

Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS) phải chịu án phí là 133.371.666đ (một trăm ba mươi ba triệu ba trăm bảy mươi mốt nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng) và Công ty cổ phán ô tô Giải Phóng (GMC) phải chịu án phí là 125.489.434đ (một trăm hai mươi lăm triệu bốn trăm tám mươi chín nghìn bốn trăm ba mươi tư đồng) được trừ vào 75.400.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0009544 ngày 05/7/2012 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm, còn phải nộp tiếp 50.089.434đ (năm mươi triệu không trăm tám mươi chín nghìn bốn trăm ba mươi tư đồng).

Kế từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật các đương sự có quyền thỏa thuận thi hành án, nếu không thỏa thuận được thì bên được thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án thi hành bản án đối với bên bị thi hành án.

Kể từ ngày có đơn xin thi hành án, bên phải thi hành án phải chịu tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án. Thời hạn yêu cầu Thi hành án là 05 năm theo điều 30 Luật Thi hành án.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt hai bên đương sự, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Đừng bỏ lỡ tin tức quan trọng, bài viết của các chuyên gia!

Tin tức nổi bật

Cập nhật 24h

Hữu ích