Dự thảo án lệ 20 (đợt 3): Dự thảo án lệ về chuyển nhượng quyền sử dụng đất là di sản thừa kế
Án lệ số ……/2017/TANDTC-AL về chuyển nhượng quyền sử dụng đất là di sản thừa kế
Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày …..tháng….. năm ….. và được công bố theo Quyết định số ……/QĐ-CA ngày …..tháng….. năm ….. của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Nguồn án lệ:
Quyết định giám đốc thẩm số 573/2013/DS-GĐT ngày 16-12-2013 của Toà Dân sự Toà án nhân dân tối cao về vụ án dân sự “tranh chấp thừa kế tài sản” tại tỉnh Vĩnh Phúc giữa nguyên đơn là bà A, bà B, bà C, bà D với bị đơn là ôngĐ; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: bà E, chị G.
Vị trí nội dung án lệ:
Đoạn 2 phần “Xét thấy” của quyết định giám đốc thẩm nêu trên.
Khái quát nội dung của án lệ:
- Tình huống án lệ:
Di sản chia thừa kế là bất động sản đã được chuyển nhượng, các đồng thừa kế biết và không phản đối việc chuyển nhượng, số tiền nhận chuyển nhượng được dùng để lo cuộc sống của các đồng thừa kế, bên nhận chuyển nhượng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, diện tích đất đã chuyển nhượngkhông còn trong khối di sản để chia thừa kế mà thuộc quyền sử dụng của bên nhận chuyển nhượng.
Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:
Khoản 2 Điều 170, Điều 234, Điều 634, Điều 697 Bộ luật dân sự năm 2005 (tương đương với khoản 2 Điều 222, Điều 223, Điều 612, Điều 500 Bộ luật dân sự năm 2015)
Từ khóa của án lệ:
“Xác lập quyền sở hữu theo thỏa thuận”; “Di sản”; “Di sản thừa kế là bất động sản”; “Đồng thừa kế”; “Chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 02-4-2011 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn bà C, bà B, bà D, bà A trình bày: Bố mẹ nguyên đơn là cụ H và cụ I sinh được 06 người con là: E, B, C, Đ, D, A.
Tài sản chung của cụ H và cụ I là 01 ngôi nhà cấp 4 cùng công trình phụ trên diện tích đất 398m2 ở tại khu L, phường M, thành phố N, tỉnh Vĩnh Phúc, nguồn gốc đất do cha ông để lại. Ngày 07-7-1984 cụ H chết (trước khi chết không để lại di chúc) cụ I và ông Đ quản lý và sử dụng nhà đất trên. Năm 1991 cụ I chuyển nhượng cho ông K một phần diện tích đất trên với diện tích đất là 131m2, còn lại diện tích 267m2, năm 1999 cụ I được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cụ I muốn cho con gái là bà A một phần diện tích đất của cụ để làm nhà ở vì hoàn cảnh của bà A đi lấy chồng ở xa, chồng chết nên cụ muốn cụ về ở cùng, nhưng ông Đ giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên cụ I không tách đất cho bà A được. Vì vậy, các bà khởi kiện ra Tòa án buộc ông Đ trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ I. Tòa án đã xử buộc ông Đ phải trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ I nhưng ông Đ không trả. Vì vậy tháng 3/2010 cụ I đã lập di chúc với nội dung: Để lại cho cho bà A diện tích đất 90m2 và toàn bộ cây cối lâm lộc trên diện tích đất có các chiều cạnh: Phía Đông giáp diện tích đất của cụ I, phía Tây giáp nhà ông Khang Nội, phía Nam giáp đường Trung Tâm, phía Bắc giáp nhà anh Thăng Chích. Khi lập di chúc cụ I hoàn toàn minh mẫn khỏe mạnh, có người làm chứng và di chúc đó đã được Ủy ban nhân dân phường M chứng thực. Toàn bộ diện tích 398m2 là của cụ I vì khi cụ H chết thì cụ I được toàn quyền sử dụng.
Ngày 19-12-2010 cụ I chết, toàn bộ khối tài sản trên vợ chồng ông Đ vẫn quản lý sử dụng. Nay các nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia di sản thừa kế theo di chúc cụ I để lại cho bà A là 90m2, phần còn lại là 177m2 đề nghị chia theo pháp luật kỷ phần thừa kế của bà B, bà D, bà C nhường cho bà A sử dụng. Ngoài ra tài sản cấy cối trên đất và phần diện tích đất nông nghiệp của cụ I các nguyên đơn không đề nghị Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Đ do bà G (là vợ) đồng thời là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày: Chị xác nhận mối quan hệ bố mẹ, anh chị em trong gia đình, tài sản bố mẹ để lại là diện tích đất 398m2 ở tại khu L, phường M, thành phố N, tỉnh Vĩnh Phúc và thời gian bố mẹ chết như các nguyên đơn trình bày là đúng nhưng toàn bộ công trình xây dựng trên đất là do vợ chồng ông bà xây dựng năm 1997. Năm 1991 cụ I tự ý bán 131m2 cho ông K không bàn bạc với ông Đ, được bao nhiêu tiền bà sử dụng vào việc gì ông không biết. Đến năm 1999 cụ I được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích còn lại là 267,4m2, ông K cũng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã mua của cụ I. Khi cụ I còn sống có lập di chúc hay không anh chị không biết. Nay các chị em trong gia đình khởi kiện yêu cầu chia thừa kế theo di chúc và theo pháp luật, quan điểm của ông Đ không đồng ý vì bố mẹ ông chỉ có một mình ông là con trai nên ông sử dụng để ở và thờ cúng tổ tiên, không đồng ý phân chia thừa kế. Ngoài ra cụ I còn có diện tích đất nông nghiệp nhưng ông Đ không đề nghị phân chia thừa kế.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà E trình bày: Bà xác nhận mối quan hệ bộ mẹ, anh chị em trong gia đình, tài sản bố mẹ để lại diện tích đất 398m2 ở tại khu L, phường M, thành phố N, tỉnh Vĩnh Phúc và thời gian bố mẹ chết như các nguyên đơn trình bày là đúng. Đến năm 1991 mẹ bà chuyển nhượng cho ông K diện tích 131m2 khi chuyển nhượng các bà đều biết việc này nhưng số tiền bao nhiêu bà không biết, chỉ biết mẹ bà đã dùng số tiền đó để trang trải nợ nần và nuôi các con. Còn lại diện tích 267,4m2 đến năm 1999 mẹ bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Phùng Thị I mà hiện nay ông Đ đang sử dụng quản lý. Khi mẹ bà còn sống có lập di chúc hay không bà không biết nay các bà B, bà D, bà A, bà C yêu cầu chia di sản thừa kế diện tích đất trên bà không đồng ý vì bố mẹ bà chỉ có ông Đ là con trai nên phải để ông Đ ở và thờ cúng. Nếu Tòa án giải quyết phân chia thừa kế theo pháp luật kỷ phần thừa kế của bà, bà không nhận mà nhường cho ông Đ được hưởng.
Với nội dung vụ án như trên;
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 11/2011/DSST ngày 04-10-2011 Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên quyết định:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà A, buộc ông Đ phải có trách nhiệm thanh toán cho bà A tổng số tiền là 340.000.000đ (trị gía 68m2 đất). Giao ông Đ được sử dụng diện tích đất 68m2 tại tờ bản đồ số 32, số thửa 81 ở khu phố khu L, phường M, thành phố N, tỉnh Vĩnh Phúc (có tứ cận).
- Không chấp nhận yêu cầu của bà B, bà C, bà D khởi kiện chia thừa kế tài sản của cụ I theo pháp luật.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 18-01-2011 các nguyên đơn bà B, bà C, bà D, bà A kháng cáo không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án chia thừa kế theo di chúc và theo pháp luật.
Tại bản án dân sự phúc thẩm số 06/2012/DSPT ngày 23-2-2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc quyết định: sửa bản án dân sự sơ thẩm số 11/2011/DSST ngày 4-10-2011 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên.
- Chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của bà B, bà C, bà D, bà A
- Giao cho ông Đ và người đại diện theo pháp luật của ông Đ là bà G diện tích 267,4m2, trị giá 1.337.000.000đồng số thửa 81, tờ bản đồ số 32 ở khu phố L, phường M, thành phố N, tỉnh Vĩnh Phúc
- Ông Đ và người đại diện theo pháp luật của Ông Đ là bà G có trách nhiệm thanh toán trị giá phần thừa kế cho bà A là 982.200.000đồng
Kể từ ngày bà A có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Đ và người đại diện theo pháp luật của ông Đ là bà G không thanh toán số tiền trên thì hàng tháng ông Đ, bà G còn phải chịu lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.
Sau khi xét xử phúc thẩm bà G, ông Đ có đơn yêu cầu xem xét lại bản án dân sự phúc thẩm nêu trên của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
Tại Quyết định số 131/QĐ-KNGĐT-V5 ngày 12-11-2013 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đối với bản án dân sự phúc thẩm số 06/2012/DSPT ngày 23-2-2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; với nhận định: Tòa án cấp phúc thẩm không đưa diện tích đất cụ I đã bán cho ông K vào khối tài sản để chia là có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm xác định di sản là tổng diện tích đất 398m2 (bao gồm cả phần đất đã bán cho ông K) để chia là không đúng.
Tuy nhiên, diện tích 267m2 đất đứng tên cụ I phải được xác định là tài sản chung của vợ chồng cụ H và cụ I chưa chia. Cụ I chỉ có quyền định đoạt ½ diện tích đất trong tổng diện tích 267m2 đất chung của vợ chồng bà là 133,5m2 – 90m2 (đã cho bà A) còn lại là 43,5m2 được chia cho 5 thừa kế.
Đối với ½ diện tích đất trong tổng diện tích 267m2 đất chung của vợ chồng là phần di sản của cụ H để lại nay đã hết thời hiệu chia thừa kế, ông Đ đang quản lý thì được tiếp tục quản lý. Tòa án cấp phúc thẩm xác định toàn bộ diện tích 267m2 đất là di sản của cụ I để chia theo di chúc cho bà A 90m2 đất và phần đất còn lại 177,4m2 chia theo pháp luật cho 5 kỷ phần là không đúng.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao giữ nguyên nội dung kháng nghị của Viện trưởng, đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng.
Hội đồng giám đốc thẩm Toà Dân sự Toà án nhân dân tối cao nhận định
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thì diện tích 398m2 đất tòa lạc tại khu phố L, phường M, thành phố N, tỉnh Vĩnh Phúc có nguồn gốc là tài sản chung vợ chồng cụ H và cụ I. Cụ H và cụ I có 06 người con chung là bà A, bà B, bà C, bà D, ông Đ, bà E. Ngày 07-7-1984 cụ H chết không để lại di chúc, cụ I và ông Đ quản lý và sử dụng nhà đất trên.
Năm 1991, cụ I chuyển nhượng cho ông K diện tích 131m2 trong tổng diện tích 398m2 của thửa đất trên; phần diện tích đất còn lại của thửa đất là 267,4m2. Năm 1999 cụ I đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích 267,4m2, cụ I cùng vợ chồng ông Đ vẫn quản lý sử dụng nhà đất này. Việc cụ I chuyển nhượng đất cho ông K các con cụ I đều biết, nhưng không ai có ý kiến phản đối gì, các con của cụ I có lời khai cụ I bán đất để lo cuộc sống của cụ và các con. Nay ông K cũng đã được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, có cơ sở để xác định các con cụ I đã đồng ý để cụ I chuyển nhượng diện tích 131m2 nêu trên cho ông K. Tòa án cấp phúc thẩm không đưa diện tích đất cụ I đã bán cho ông K vào khối tài sản để chia là có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm xác định di sản là tổng diện tích đất 398m2 (bao gồm cả phần đất đã bán cho ông K) để chia là không đúng.
Ngày 19-12-2010 cụ I chết, trước khi chết cụ đã để lại di chúc lập ngày 05-3-2009 có nội dung để lại cho bà A (con gái cụ I) diện tích 90m2 đất trong tổng diện tích 267m2 đất trên, di chúc có chứng thực của Ủy ban nhân dân phường M ngày 7-3-2009. Tuy di chúc được lập và chứng thực không cùng ngày qua ý kiến của Ủy ban nhân dân phường và lời khai của những người làm chứng trong di chúc thì có căn cứ để xác định cụ I lập di chúc khi còn minh mẫn và nội dung di chúc theo ý nguyện của cụ I nên Tòa án hai cấp chấp nhận di chúc là có lý, có tình.
Tuy nhiên, diện tích 267m2 đất đứng tên cụ I, nhưng được hình thành trong thời gian hôn nhân nên phải được xác định là tài sản chung của vợ chồng cụ H và cụ I chưa chia. Cụ I chỉ có quyền định đoạt ½ diện tích đất trong tổng diện tích 267m2đất chung của vợ chồng cụ. Do đó, phần di sản của cụ I để lại là ½ khối tài sản (133,5m2) được chia theo di chúc cho bà A (con gái cụ I) là 90m2, còn lại là 43,5m2 được chia cho 5 kỷ phần còn lại (trong đó bà E nhường kỷ phần thừa kế cho ông Đ, bà B, bà C, bà D nhường kỷ phần cho bà A). Đối với ½ diện tích đất trong tổng diện tích 267m2 đất chung của vợ chồng là phần di sản của cụ H để lại nay đã hết thời hiệu chia thừa kế, ông Đ là một trong các thừa kế không đồng ý chia, theo quy định tại tiểu mục 2.4 mục 2 phần I của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì không đủ điều kiện để chia tài sản chung nên phần diện tích đất này ai đang quản lý, sử dụng thì được tiếp tục quản lý, sử dụng.Tòa án cấp phúc thẩm xác định toàn bộ diện tích 267m2 đất là di sản của cụ I để chia theo di chúc cho bà A 90m2 đất và phần đất còn lại 177,4m2 chia theo pháp luật cho 5 kỷ phần là không đúng.
Ngoài ra, ông Đ không kháng cáo nhưng Tòa án lại tuyên ông Đ phải chịu 200.000đồng án phí phúc thẩm. Bà B, bà C, bà D tự nguyện nhường kỷ phần của các bà cho bà A và được Tòa chấp nhận, bà A là hộ nghèo được miễn toàn bộ án phí nhưng Tòa cấp phúc thẩm không tuyên trả lại tiền tạm ứng án phí sơ thẩm cho bà B, bà C, bà D đều là không đúng. Vì vậy, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là có căn cứ chấp nhận.
Bởi các lẽ trên, căn cứ vào khoản 2 Điều 291, khoản 3 Điều 297 và Điều 299 của Bộ luật tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
Hủy toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm số 06/2012/DSPT ngày 23-02-2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc và bản án dân sự sơ thẩm số 11/2011/DS-ST ngày 04-10-2011 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về vụ án “tranh chấp thừa kế tài sản” giữa nguyên đơn là bà B, bà C, bà D, bà A với bị đơn là ông Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà E, bà G.
Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.
NỘI DUNG ÁN LỆ
“Năm 1991, cụ I chuyển nhượng cho ông K diện tích 131m2 trong tổng diện tích 398m2 của thửa đất trên; phần diện tích đất còn lại của thửa đất là 267,4m2. Năm 1999 cụ I đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích 267,4m2, cụ I cùng vợ chồng ông Đ vẫn quản lý sử dụng nhà đất này. Việc cụ I chuyển nhượng đất cho ông K các con cụ I đều biết, nhưng không ai có ý kiến phản đối gì, các con của cụ I có lời khai cụ I bán đất để lo cuộc sống của cụ và các con. Nay ông K cũng đã được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, có cơ sở để xác định các con cụ I đã đồng ý để cụ I chuyển nhượng diện tích 131m2 nêu trên cho ông K. Tòa án cấp phúc thẩm không đưa diện tích đất cụ I đã bán cho ông K vào khối tài sản để chia là có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm xác định di sản là tổng diện tích đất 398m2 (bao gồm cả phần đất đã bán cho ông K) để chia là không đúng”.
(nguồn Cổng thông tin điện tử TANDTC (www.toaan.gov.vn))
Tin tức nổi bật
Cập nhật 24h
Hữu ích