875/2013/HNGĐ-ST Sơ thẩm Dân sự - Hôn nhân gia đình - Đất đai - Thừa kế
- 934
- 1
Quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc. Ông BĐ_Dũng không quan tâm đến cuộc sống của gia đình. Nhận thấy vợ chồng không thể chung sống được nữa, tình cảm của bà đối với ông BĐ_Dũng cũng không còn nên bà khởi kiện yêu cầu được ly hôn. - Về con chung: Có một trẻ tên Lê Thị Ngọc Trinh - sinh ngày 17/8/2003 hiện đang ở với bà, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng không yêu cầu ông BĐ_Dũng cấp dưỡng nuôi con. - Về tài sản chung: Bà khai không có.
35/2007/DS-ST Sơ thẩm Dân sự - Hôn nhân gia đình - Đất đai - Thừa kế
- 1693
- 9
Trong đơn khởi kiện đề ngày 20/11/2006, ngày 02/02/2007 và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Phạm Thị Thu Hồng trình bày: Giữa nguyên đơn với bị đơn là anh Bùi Mộng Toàn qua 1 thời gian tìm hiểu, anh chị quyết định tổ chức đám cưới và chung sống với nhau từ năm 1989 đến nay, nhưng không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống anh và chị xảy ra nhiều mâu thuẫn, nhiều lần anh Toàn ghen tuông vô cớ đánh đập chị phải đi cấp cứu. Nay, chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu giải quyết ly hôn.
1587/2007/HNST Sơ thẩm Dân sự - Hôn nhân gia đình - Đất đai - Thừa kế
- 631
- 10
Tranh chấp về xác định mẹ và quyền nhận mẹ
Trong đơn khởi kiện ngày 28/2/2007, lời khai tại các bản tự khai và tại phiên toà sơ thẩm bà Võ Thị Mỹ trình bày: Bà là con ruột của bà Nguyễn Thị Hinh, sinh ngày 11/10/1915 (chết năm 1989). Năm 1950 bà Hinh sinh bà, do là con ngoại hôn, mẹ bà muốn có chồng nên nhờ bà Võ Thị Huê đứng tên là mẹ trong giấy khai sinh của bà. Mẹ bà nuôi bà từ khi sinh ra cho đến khi bà lấy chồng. Lúc bà lên 3- 4 tuổi, mẹ bà lây ông Lê Công Mão. ông Mão và mẹ bà không có con chung ( ông Mão chết năm 1984). Mẹ bà còn có một người con tên là Lê Văn Quý, sinh năm 1942, không rõ tên cha. Ông Quý chết do tai nạn giao thông năm 1969, không có vợ, con. Ngoài ra, mẹ bà còn nhận nuôi một người cháu tên là Nguyễn Thị Kim Chi, sinh năm 1958, con của cậu ruột là ông Nguyễn Văn Khôi và vợ là bà Nguyễn Thị Nguyên.
26/2007/HNGĐ-ST Sơ thẩm Dân sự - Hôn nhân gia đình - Đất đai - Thừa kế
- 858
- 11
Sau khi sinh con, ông Ksor Tliă không quan tâm gì đến mẹ con bà nên bà không sống với ông Ksor Tliă nữa. Năm 1999, bà yêu cầu TAND huyện AYP giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con. Bản án số 01/HNGD ngày 24/11/1999 của TAND huyện AYP đã quyết định giao con chung của bà và ông Ksor Tliă là Siu H’ Nia, sinh ngày: 11/5/1992 cho bà nuôi dưỡng, ông Ksor Tliă phải cấp dưỡng nuôi con 100.000đ/tháng. Thời hạn cấp dưỡng đến khi cháu trưởng thành, đủ 18 tuổi. Đến năm 2005, bà yêu cầu TAND huyện AYP giải quyết việc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con là 400.000đ/tháng. Bản án số 06/2005/HNGD-ST ngày 02/6/2005 của TAND huyện AYP đã quyết định buộc ông Ksor Tliă, phải cấp dưỡng 300.000đ/tháng.
44/2007/HNGĐ-ST Sơ thẩm Dân sự - Hôn nhân gia đình - Đất đai - Thừa kế
- 1029
- 29
Yêu cầu hủy hôn nhân trái pháp luật
Qua một thời gian dài tìm hiểu anh BĐ_Cho nên ngày 10/9/2006 chị NĐ_Vy quyết định về Việt Nam để làm thủ tục kết hôn. Ngày 15/11/2006 chị NĐ_Vy và anh BĐ_Cho đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường VC, quận ĐĐ, TP. HN do không hiểu biết pháp luật nên chị NĐ_Vy, anh BĐ_Cho đã làm thủ tục tại Uỷ ban nhân dân phường VC, quận ĐĐ, HN cho đến khi chị NĐ_Vy làm thủ tục bảo lãnh cho anh BĐ_Cho cùng sang Australia (Úc) cùng chị thì mới biết đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường VC là không được chấp nhận vì sai thẩm quyền do chị NĐ_Vy hiện đang sinh sống và định cư ở Australia.