850/2015/DS-PT: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản Phúc thẩm Dân sự - Hôn nhân gia đình - Đất đai - Thừa kế
- 967
- 14
Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ngày 16/7/2009, bà cho bà BĐ_Thanh vay 300.000.000 đồng lãi suất 6%/tháng, thời hạn vay 01 tháng, thế chấp bản chính 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 870197, AL 070196, AN 346897 đứng tên bà BĐ_Nguyễn Thị Thanh - ông Nguyễn VănThanh và bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA 346897 đứng tên ông Nguyễn Văn Thành. Để làm tin, ông LQ_Đan có ký tên bên cho mượn cùng bà, còn bà BĐ_Thanh ký tên, đóng dấu LQ_Công ty TNHH Đầu tư Thương mại Dịch vụ Ngân Hà. Khoảng 03 tháng đầu bà BĐ_Thanh trả lãi đầy đủ. Sau đó, lãi suất giảm còn 4%/tháng, nhưng bà BĐ_Thanh trả lãi không đầy đủ.
804/2015/DSPT: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản Phúc thẩm Dân sự - Hôn nhân gia đình - Đất đai - Thừa kế
- 340
- 13
Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Nguyên đơn ông NĐ_Vũ Thắng Thiên và là người được người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà LQ_Đinh Thị Nhân ủy quyền trình bày: Ngày 06/6/2010 bà BĐ_Trần Thị Tiên có vay tiền của ông NĐ_Vũ Thắng Thiên và bà LQ_Đinh Thị Nhân (tên thường gọi là Liễu, nhưng thật chất là LQ_Đinh Thị Nhân). Nội dung Hợp đồng vay tiền ngày 06/6/2010 thỏa thuận như sau: - Số tiền vay: 455.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi lăm triệu đồng); - Thời hạn vay: 02 (Hai) tháng, kể từ ngày 06/6/2010;
798/2015/HNGĐ-PT: Ly hôn Phúc thẩm Dân sự - Hôn nhân gia đình - Đất đai - Thừa kế
- 520
- 13
Ông NĐ_Lê Quang Hòa và bà BĐ_Nguyễn Thị Thùy Dương là vợ chồng hợp pháp theo Giấy chứng nhận kết hôn số 59, quyển 01/1998 ngày 15/6/1998, của Ủy ban nhân dân phường Thạnh Mỹ Lợi, Quận X, Thành phố HCM. Ông NĐ_Hòa trình bày cho rằng: Vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn do không hoà hợp nhau về quan điểm sống, mâu thuẫn về việc muốn sinh con thứ hai, bất đồng về quản lý kinh tế gia đình và thường cãi nhau kéo dài,… Vợ chồng đã sống ly thân được gần 04 năm. Ông NĐ_Hòa nhận thấy tình cảm vợ chồng thực sự đã không còn, khả năng hàn gắn là không thể nên ông yêu cầu ly hôn với bà BĐ_Dương.
1634/2014/DS-PT : Tranh chấp quyền sử dụng đất Phúc thẩm Dân sự - Hôn nhân gia đình - Đất đai - Thừa kế
- 2752
- 60
Nguyên đơn - NĐ_Nguyễn Thị Hồng Điệp trình bày: Nguyên lối đi chung có diện tích 59,6 m2 tại tổ 6, ấp 3, xã XTT, huyện HM đã hình thành từ trước năm 1975, lối đi này có chiều rộng khoảng 5 m, chiều dài khoảng 13 m, thuộc thửa đất 1026 do gia đình bà sử dụng đã được Ủy ban nhân dân huyện HM cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00861/QSDĐ ngày 10/11/1992 cho chồng bà là ông LQ_Phạm Văn Xoài. Đây là lối đi chung của nhiều hộ dân. Vào khoảng tháng 5 năm 2011 bà BĐ_Mai Thị Xê đã tự ý cho thợ xây móng, đổ đất, đá bít lối đi này trước nhà bà. Do đó bà khởi kiện yêu cầu bà BĐ_Mai Thị Xê trả lại diện tích đất lấn chiếm để trả lại lối đi chung. Phần đất tranh chấp lối đi hiện nay qua đo đạc thực tế có diện tích 48,8 m2 thuộc phần đường, thửa phân chiết c, khu 2 (theo bảng chỉ dẫn diện tích tài liệu 2005), bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 96394/CN HM – CC ký đóng dấu ngày 19/11/2013 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài Nguyên Môi Trường Thành Phố HCM. Bà yêu cầu bà BĐ_Mai Thị Xê phải tháo dỡ móng gạch trả lại diện tích đất lấn chiếm để làm lối đi công cộng.
1618/2014/DSPT: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản Phúc thẩm Dân sự - Hôn nhân gia đình - Đất đai - Thừa kế
- 495
- 4
Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Nguyên đơn - Bà NĐ_Đỗ Thị Hồng Son trình bày: Bà và bà BĐ_Tính có quen biết nhau, Bà có cho bà BĐ_Tính vay mượn tiền nhiều lần để kinh doanh shop quần áo và bà BĐ_Tính đã thanh toán hoàn tất. Ngày 25/12/2010, bà BĐ_Tính có hỏi vay Bà số tiền 450.000.000đ (Bốn trăm năm mươi triệu đồng), hai bên lập hợp đồng vay tiền, với thời hạn vay là bốn tháng, lãi suất thỏa thuận 3%/ tháng. Sau khi ký hợp đồng và nhận tiền cho đến nay bà BĐ_Tính chưa thanh toán khoản tiền nào cho Bà, Bà đã nhiều lần yêu cầu bà BĐ_Tính trả nợ vay, nhưng bà BĐ_Tính không trả. Nay Bà yêu cầu bà BĐ_Nguyễn Thị Kim Tính phải trả cho Bà số tiền 450.000.000đ (Bốn trăm năm mươi triệu đồng), trả ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật và không yêu cầu bà BĐ_Tính trả tiền lãi suất.