380/2006/KDTM-ST Sơ thẩm Kinh doanh thương mại
- 3394
- 78
Tranh chấp hợp đồng mua bán hóa chất
Ngày 05/11/2003 NĐ_Công ty TNHH dịch vụ thương mại sản xuất Ngọc Hường có văn bản yêu cầu BĐ_Công ty TNHH Tocoro Mall khắc phục hậu quả thiệt hại nhưng không được BĐ_Công ty TNHH Tocoro Mall giải quyết. Do đó, NĐ_Công ty TNHH dịch vụ thương mại sản xuất Ngọc Hường đã làm đơn khởi kiện yêu cầu BĐ_Công ty TNHH Tocoro Mall phải bồi thường thiệt hại cho NĐ_Công ty TNHH dịch vụ thương mại sản xuất Ngọc Hường số tiền là 121.000USD.
40/2014/GĐT-DS Giám đốc thẩm Dân sự - Hôn nhân gia đình - Đất đai - Thừa kế
- 1322
- 25
Tranh chấp quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất
Căn nhà số 319 NTL, phường 13, quận BT diện tích 369,86m2 nằm trong khuôn viên 1356m2 đất do cụ Âu Ngọc và cụ Phù Cải (cha, mẹ của bà) mua năm 1967. Ngày 04/01/1993 cụ Ngọc, cụ Cải chuyển nhượng cho Công ty Xuất nhập khẩu, sản xuất, dịch vụ và đầu tư quận 1, thành phố HCM (Sunimex) căn nhà trên khuôn viên 1.540m2 đất (22m X 70m). Phần chái bên phải của căn nhà có diện tích 280m2 (4m X 70m) các cụ giữ lại để làm nhà ở. Do cụ Cải bị bệnh phải về nhà bà LQ_Âu Mẫn (số 15/8 ấp Trung Tre, xã LX, quận TĐ) để ở và chữa bệnh, nên phần chái nhà nêu trên các cụ giao cho bà LQ_Âu Mỵ, ông Nguyễn Văn Đan (con gái và con rể) ở. Năm 1994, khi bà LQ_Mỵ, ông Đan sang Mỹ định cư, bà BĐ_Miên, ông Thái mượn diện tích đất này làm lối đi với lý do lối đi phía đường ray xe lửa (nay là hẻm số 318 Nguyễn Xí, phường 13, quận BT) đã bị chủ đất bịt lại, sau đó bà BĐ_Miên, ông Thái tự ý làm chủ quyền nhà đứng tên ông Thái, bà BĐ_Miên. Khi biết được việc này, cụ Ngọc đã khiếu nại với ủy ban nhân dân phường 13, quận BT, nhưng cho đến nay vẫn chưa được giải quyết. Năm 1995, cụ Cải chết không để lại di chúc. Năm 2000, cụ Ngọc chết có di chúc để lại diện tích nhà, đất 280m2 (4m X 70m) tại số 319 đường NTL, phường 13, quận BT cho bà được hưởng, nên bà yêu cầu bà BĐ_Miên và các con của bà BĐ_Miên trả lại diện tích nhà, đất nêu trên cho các thừa kế của cụ Ngọc, cụ Cải.
304/2014/DS-GĐT Giám đốc thẩm Dân sự - Hôn nhân gia đình - Đất đai - Thừa kế
- 1584
- 38
Bên cạnh đó Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm còn có sai sót sau: Ông Đỗ Kiểm chết trước cụ Phan Thị Đạt nên trong trường hợp này các anh chị LQ_Đỗ Thị Linh, LQ_Đỗ Thị Hà, LQ_Đỗ Thị Sa, LQ_Đỗ Thị Hảo, LQ_Đỗ Thị Châu, LQ_Đỗ Thị Trà, LQ_Đỗ Thị Trân, BĐ_Đỗ Quang Vũ, BĐ_Đỗ Quang Tâm, LQ_Đỗ Thị Kim Thư là người thừa kế thế vị di sản của cụ Phan Thị Đạt. Vì vậy, Tòa án cấp phúc thẩm quyết định bà LQ_Võ Thị Hoa cũng được hưởng di sản thừa kế của cụ Đạt là không đúng pháp luật. Đất tranh chấp gồm có đất ở và đất trồng cây lâu năm có giá trị khác nhau. Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết chia theo hiện vật mỗi phần thừa kế 1.333,2m2 mà chưa tính đến vấn đề giá trị là ảnh hưởng đến quyền lợi của những người thừa kế được nhận đất có giá trị thấp. Tòa án cấp phúc thẩm quyết định bà NĐ_Đỗ Thị Điệp, bà NĐ_Đỗ Thị Cẩm có nghĩa vụ thanh toán cho bà LQ_Võ Thị Hoa và 10 người con giá trị 31,2m2 đất chênh lệch theo giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh TN quy định mà không theo giá thị trường là không phù hợp pháp luật.
31/2014/DS-GĐT Giám đốc thẩm Dân sự - Hôn nhân gia đình - Đất đai - Thừa kế
- 1470
- 55
trong quá trình giải quyết vụ, án ông BĐ_Hào có yêu cầu được chia hiện vật là căn nhà số 60/2 đường Độc Lập để làm nơi thờ cúng, nhưng Tòa án phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông BĐ_Hào; giao cho Cơ quan thi hành án bán đấu giá 02 căn nhà để chia giá trị cho các thừa kế cũng là không đúng. Tuy nhiên, tại Công văn số 4743/CTHA ngày 21/02/2014, Cục Thi hành án dân sự thành phố HCM xác định Cơ quan thi hành án đã tổ chức bán đấu giá hai căn nhà gắn liền với quyền sử dụng đất theo quyết định tại bản án phúc thẩm. Như vậy, nhà đất có tranh chấp đã được chuyển giao hợp pháp cho người thứ 3 ngay tình. Vì vậy, không còn là di sản thừa kế để chia, nên khi giải quyết lại phải chia bằng giá trị cho những người thừa kế số tiền tương ứng với kỷ phần mà từng đương sự được hưởng. Bởi các lẽ trên, căn cứ Khoản 3 Điều 291, Khoản 3 Điều 297 và Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 65/2011/QH12 ngày 29/3/2011 của Quốc hội).
25/2014/DS–GĐT Giám đốc thẩm Dân sự - Hôn nhân gia đình - Đất đai - Thừa kế
- 501
- 17
Ông BĐ_Nga và bà BĐ_Tố đều khai rằng ông bà không biết việc cụ Hưng chuyển nhượng đất cho bà NĐ_Na và bà NĐ_Na được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng phần đất trên lúc nào ông bà cũng không biết. Vì vậy, cần xác định rõ phần đất nào là di sản của cụ Kỉnh, phần đất nào là di sản của cụ Hưng sau khi trừ phần cụ Hưng đã cho ông BĐ_Nga và bà BĐ_Tố cất nhà ở; ai là người trực tiếp quản lý sử dụng phần di sản của cụ Kỉnh để lại?. Những vấn đề trên chưa được xác định, xác minh làm rõ nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại chia thừa kế diện tích 1.160m2 đất của cụ Kỉnh và cụ Hưng cho các đồng thừa kế của hai cụ là không đúng; còn Tòa án cấp phúc thẩm xác định phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của cá nhân cụ Hưng và việc cụ Hưng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà NĐ_Na phù hợp với quy định của pháp luật, từ đó buộc ông BĐ_Nga và bà BĐ_Tố phải dỡ nhà trả lại diện tích đất mà cụ Hưng đã để cho ông BĐ_Nga và bà BĐ_Tố cất nhà ở là không đúng