CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI CASELAW VIỆT NAM



Sắp xếp:

Bản án/Quyết định số: 239/2015/DS-ST Sơ thẩm Dân sự - Hôn nhân gia đình - Đất đai - Thừa kế

  • 630
  • 48

Yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu

14-07-2015
TAND cấp huyện

Tại đơn khởi kiện, khởi kiện bổ sung, bản khai và tại phiên tòa nguyên đơn bà NĐ_Đặng Thị Vũ Luy trình bày: Năm 1989 bà mua thửa đất toạ lạc tại địa chỉ 753 (cũng là 753A) ấp ADD, xã AP, huyện TĐ từ ông Huỳnh Văn Hàm, bà Nguyễn Ngọc Tốt và giao cho con trai là ông LQ_Đào Duy Linh đứng ra giao dịch. Thửa đất rộng 1500m2 bà NĐ_Luy chia làm 2 phần, nửa lớn bà NĐ_Luy giao cho ông LQ_Linh quản lý, nửa nhỏ bà NĐ_Luy tự bỏ tiền ra xây nhà số 50 (số cũ là 720G) NQH, phường TĐ, Quận X, Thành phố HCM nhưng nhờ vợ chồng con gái là Đào Ngọc Ánh, con rể là Chung Văn Đông đứng ra xin phép xây dựng và đăng ký quyền sở hữu nhà.


Bản án/Quyết định số: 64/2014/DS-ST Sơ thẩm Dân sự - Hôn nhân gia đình - Đất đai - Thừa kế

  • 1263
  • 180

Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà

04-11-2014
TAND cấp huyện

Theo đơn khởi kiện ngày 21/5/2008 và những lời khai tiếp theo tại Tòa án nhân dân Quận X, ông Võ Ngọc Du là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Vào ngày 18/9/2007 bà NĐ_Nga và bị đơn bà BĐ_Nguyễn Thị Mẫn có ký hợp đồng mua bán căn nhà số 164B (164/1-2-3) NVT, phường ĐK, Quận X và nhà số 80/27 MĐC, phường ĐK, Quận X, Thành phố HCM với giá thỏa thuận là 7.000.000.000 đồng. Với phương thức thanh toán như sau: Lần 1 : Đặt cọc số vàng là 20 lượng vàng SJC, sau đó ngày 20/4/2008 đưa thêm 30 lượng vàng. Tồng cộng bà NĐ_Nga đã đưa cho bà BĐ_Mẫn 50 lượng vàng SJC. Lần 2: Sau khi 2 bên ký hợp đồng mua bán tại Phòng công chứng số 1 và có biên nhận tiếp nhận hồ sơ của Chi Cục Thuế Quận X, bà NĐ_Nga sẽ giao tiếp cho bà BĐ_Mẫn số tiền còn lại.


Bản án/Quyết định số: 21/2008/HNGĐ-PT Phúc thẩm Dân sự - Hôn nhân gia đình - Đất đai - Thừa kế

  • 445
  • 60

Ly hôn và yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng

23-06-2008
TAND cấp tỉnh

Theo ông NĐ_Bùi Văn Vinh trình bày: ông và bà BĐ_Nguyễn Thị Mộng kết hôn và chung sống từ năm 1985, ông bà có hai người con chung và có tài sản sản chung là căn nhà 8ố: 542 đường số 25 (NTT), khu phố CXM, thị trấn KL, huyện KL, KG. về căn nhà tuy là tài sản chung nhưng công sức đóng góp tạo dựng phần của ông là chính, vì ông làm trong công ty xi măng Hà Tiên II đã hơn 25 năm, được công ty bán hóa giá và tiền bạc ông đóng góp nhiều hơn vợ để mua căn nhà. Nay ông yêu cầu chia trị giá căn nhà làm ba phần ông hưởng hai phần và bà BĐ_Mộng một phần. Trị giá căn nhà thỏa thuận là 233.910.245đ, ngoài ra trong quá trình chung sống vợ ông có nợ bà LQ_Đình số tiền 168.672.500đ và 1.950 USD, ông xác nhận vợ ông có nợ bà LQ_Đình và ông dự định hỗ trợ tiếp với vợ ông trả nợ cho bà LQ_Đình nhưng bà LQ_Đình lại yêu cầu buộc vợ chồng ông trả nợ quá khắt khe (không thương lượng thỏa thuận được), nên ông yêu cầu chia tài sản chung để vợ ông có phần tiền riêng trả nợ cho bà LQ_Đình.


Bản án/Quyết định số: 07/2011/DSGĐT-HĐTP Giám đốc thẩm Dân sự - Hôn nhân gia đình - Đất đai - Thừa kế

  • 309
  • 23

Tranh chấp thừa kế

21-03-2011