- NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 124/2004/NĐ-CP NGÀY 18 THÁNG 5 NĂM 2004 QUY ĐỊNH VỀ MỘT SỐ CƠ CHẾ TÀI CHÍNH NGÂN SÁCH ĐẶC THÙ ĐỐI VỚI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Chương 1: VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Điều 1. Nguồn thu và nhiệm vụ chi của ngân sách thành phố Hồ Chí Minh được phân cấp theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước. Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh trình Hội đồng nhân dân thành phố quyết định phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp thuộc Thành phố (thành phố, quận, huyện, phường, xã) theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, phù hợp với tình hình thực tế và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toán xã hội của Thành phố. Riêng đối với ngân sách xã, thị trấn thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 34 Luật Ngân sách nhà nước. Nguồn thu và nhiệm vụ chi của ngân sách thành phố Hồ Chí Minh được phân cấp theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước. Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh trình Hội đồng nhân dân thành phố quyết định phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp thuộc Thành phố (thành phố, quận, huyện, phường, xã) theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, phù hợp với tình hình thực tế và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toán xã hội của Thành phố. Riêng đối với ngân sách xã, thị trấn thực hiện theo quy định tại
Điều này được hướng dẫn bởi Mục I Phần B Thông tư 52/2004/TT-BTC có hiệu lực từ ngày 05/7/2004
- Điều 2. Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách trung ương và ngân sách thành phố do Chính phủ trình Ủy ban thưường vụ Quốc hội quyết định; thời gian ổn định tỷ lệ phần trăm phân chia này do Chính phủ trình Quốc hội quyết định.
- Điều 3. Hàng năm, trong trường hợp có số tăng thu ngân sách trung ương so với dự toán Thủ tướng Chính phủ giao từ các khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách thành phố theo quy định tại khoản 2 Điều 30 Luật Ngân sách nhà nước, ngân sách thành phố được thưởng 30% của số tăng thu này, nhưng không vượt quá số tăng thu so với mức thực hiện năm trước. Hàng năm, trong trường hợp có số tăng thu ngân sách trung ương so với dự toán Thủ tướng Chính phủ giao từ các khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách thành phố theo quy định tại ngân sách thành phố được thưởng 30% của số tăng thu này, nhưng không vượt quá số tăng thu so với mức thực hiện năm trước.
Điều này được hướng dẫn bởi Mục II Phần B Thông tư 52/2004/TT-BTC có hiệu lực từ ngày 05/7/2004
- Chương 2: VỀ HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN TÀI CHÍNH CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chương này được hướng dẫn bởi Mục III Phần B Thông tư 52/2004/TT-BTC có hiệu lực từ ngày 05/7/2004
- Điều 4. Chính phủ ưu tiên bố trí vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cho thành phố Hồ Chí Minh để đầu tư các chương trình, dự án xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị, môi trường và phúc lợi công cộng.
- Điều 5. Thành phố Hồ Chí Minh được huy động vốn đầu tư trong nước thông qua các hình thức phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, các hình thức huy động khác theo quy định của pháp luật; ngân sách thành phố có trách nhiệm thanh toán gốc, lãi và các chi phí khác liên quan.
Điều này được bổ sung bởi Khoản 2 Điều 1 Nghị định 61/2014/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 08/08/2014
- Điều 6. Việc huy động vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng thuộc phạm vi ngân sách thành phố quy định tại Điều 5 Nghị định này được thực hiện như sau:
- Điều 7. Ngoài nguồn vốn huy động cho các dự án, công trình thuộc đối tượng đầu tư từ nguồn vốn ngân sách theo quy định tại Điều 5 Nghị định này; đối với các dự án thuộc lĩnh vực đầu tư có khả năng thu hồi vốn, Ủy ban nhân dân thành phố quyết định hoặc trình cơ quan có thẩm quyền quyết định việc huy động đầu tư theo các hình thức: BOT (xây dựng - vận hành - chuyển giao), BTO (xây dựng - chuyển giao - vận hành), BT (xây dựng - chuyển giao) và các hình thức khác. Thực hiện các giải pháp tài chính như hỗ trợ lãi suất vay vốn đầu tư, bù một phần chênh lệch giữa chi phí và giá dịch vụ theo quy định của pháp luật.
- Điều 8. Ủy ban nhân dân thành phố được quyền quyết định tiếp nhận các khoản viện trợ không hoàn lại cho Thành phố không phụ thuộc vào quy mô viện trợ; riêng đối với các khoản viện trợ có liên quan đến tôn giáo, quốc phòng, an ninh, phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố chịu trách nhiệm thực hiện việc tiếp nhận, quản lý, sử dụng có hiệu quả các khoản viện trợ này, thực hiện chế độ hạch toán, quyết toán theo đúng quy định của pháp luật; định kỳ báo cáo Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch Đầu tư để theo dõi, giám sát và tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
- Điều 9. Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh có trách nhiệm tiếp tục củng cố và phát triển "Quỹ Đầu tư phát triển đô thị" và các quỹ tài chính khác theo quy định của pháp luật để huy động sự tham gia đóng góp của các thành phần kinh tế, các tổ chức và cá nhân cho ngân sách thành phố, nhằm tăng cường khả năng thu hút các nguồn vốn cho đầu tư phát triển Thành phố.
- Chương 3: TỔ CHỨC THỰC HIỆN
- Điều 10. Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn tổ chức thực hiện Nghị định này.
- Điều 11. Những nội dung khác về thực hiện ngân sách nhà nước không quy định tại Nghị định này, thực hiện theo Luật Ngân sách nhà nước và Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước.
Nghị định số 124/2004/NĐ-CP ngày 18/05/2004 của Chính phủ Quy định cơ chế tài chính ngân sách đặc thù đối với thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản hết hiệu lực)
- Số hiệu văn bản: 124/2004/NĐ-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Cơ quan ban hành: Chính phủ
- Ngày ban hành: 18-05-2004
- Ngày có hiệu lực: 10-06-2004
- Ngày bị sửa đổi, bổ sung lần 1: 08-08-2014
- Ngày bị sửa đổi, bổ sung lần 2: 08-08-2014
- Ngày bị bãi bỏ, thay thế: 10-06-2017
- Tình trạng hiệu lực: Hết hiệu lực
- Thời gian duy trì hiệu lực: 4748 ngày (13 năm 0 tháng 3 ngày)
- Ngày hết hiệu lực: 10-06-2017
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Tiếng anh