- NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 33/2001/NĐ-CP NGÀY 06 THÁNG 7 NĂM 2001 VỀ ``GIẤY CHỨNG MINH AN NINH NHÂN DÂN`` VÀ ``GIẤY CHỨNG NHẬN CẢNH SÁT NHÂN DÂN``
- Điều 1. Giấy chứng minh An ninh nhân dân, Giấy chứng nhận Cảnh sát nhân dân, là giấy riêng của lực lượng Công an nhân dân, chứng nhận người được cấp giấy này là sĩ quan, hạ sĩ quan làm việc trong lực lượng Công an nhân dân, dùng để quản lý sĩ quan, hạ sĩ quan, sử dụng trong công tác, chiến đấu bảo vệ an ninh trật tự.
- Điều 2. ``Giấy chứng minh An ninh nhân dân``, ``Giấy chứng nhận Cảnh sát nhân dân`` hình chữ nhật, chiều dài 9 cm, chiều rộng 6,5 cm.
- Điều 3. ``Giấy chứng minh An ninh nhân dân`` cấp cho sĩ quan, hạ sĩ quan An ninh nhân dân; ``Giấy chứng nhận Cảnh sát nhân dân`` cấp cho sĩ quan, hạ sĩ quan, Cảnh sát nhân dân.
- Điều 4. Trường hợp sĩ quan, hạ sĩ quan công an khi thi hành nhiệm vụ khẩn cấp mà mặc thường phục, không mặc trang phục của Công an nhân dân, được sử dụng ``Giấy chứng minh An ninh nhân dân``, "Giấy chứng nhận Cảnh sát nhân dân`` để xuất trình giới thiệu là cán bộ công an. Các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân có trách nhiệm tạo điều kiện để sĩ quan, hạ sĩ quan đó thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật.
- Điều 5. Sĩ quan, hạ sĩ quan Công an nhân dân được sử dụng ``Giấy chứng minh An ninh nhân dân``, Giấy chứng nhận Cảnh sát nhân dân`` của mình làm chứng nhận là sĩ quan, hạ sĩ quan công an; xuất trình khi người có thẩm quyền yêu cầu kiểm tra.
- Điều 6. Sĩ quan, hạ sĩ quan công an quy định tại Điều 1 Nghị định này khi thay đổi đơn vị, nghỉ hưu, chuyển ngành, xuất ngũ hoặc bị kỷ luật tước danh hiệu Công an nhân dân thì phải nộp Giấy chứng minh An ninh nhân dân hoặc Giấy chứng nhận Cảnh sát nhân dân lại cho cơ quan đã cấp giấy trước khi nhận các thủ tục chuyển ngành, xuất ngũ, nghỉ hưu.
- Điều 7. Nghiêm cấm việc làm giả ``Giấy chứng minh An ninh nhân dân``, ``Giấy chứng nhận Cảnh sát nhân dân`` và sử dụng Giấy chứng minh An ninh nhân dân giả, Giấy chứng nhận Cảnh sát nhân dân giả để mạo danh cán bộ, chiến sĩ công an hoạt động phạm pháp hoặc vụ lợi cá nhân. Người làm giả ``Giấy chứng minh An ninh nhân dân``, ``Giấy chứng nhận Cảnh sát nhân dân``, sử dụng giấy giả để mạo danh cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân hoạt động phạm pháp tùy theo mức độ sai phạm bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Điều 8. Nghị định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày ký và thay thế Nghị định số 295/HĐBT ngày 15 tháng 8 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ).
- Điều 9. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
Nghị định số 33/2001/NĐ-CP ngày 06/07/2001 của Chính phủ Về việc Giấy chứng nhận An ninh nhân dân và Giấy chứng nhận Cảnh sát nhân dân (Văn bản hết hiệu lực)
- Số hiệu văn bản: 33/2001/NĐ-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Cơ quan ban hành: Chính phủ
- Ngày ban hành: 06-07-2001
- Ngày có hiệu lực: 21-07-2001
- Ngày bị bãi bỏ, thay thế: 30-05-2008
- Tình trạng hiệu lực: Hết hiệu lực
- Thời gian duy trì hiệu lực: 2505 ngày (6 năm 10 tháng 15 ngày)
- Ngày hết hiệu lực: 30-05-2008
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Chế độ hiển thị lược đồ:
Vui lòng Đăng ký tài khoản hoặc đăng nhập để xem và tải văn bản gốc.
Lược đồ văn bản:
Nghị định số 33/2001/NĐ-CP ngày 06/07/2001 của Chính phủ Về việc Giấy chứng nhận An ninh nhân dân và Giấy chứng nhận Cảnh sát nhân dân (Văn bản hết hiệu lực)
Văn bản bị bãi bỏ, thay thế (0)
Văn bản bãi bỏ, thay thế (1)
Văn bản bị sửa đổi, bổ sung (0)
Văn bản sửa đổi, bổ sung (0)
Văn bản được hướng dẫn, quy định chi tiết (0)
Văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết (0)
Văn bản bị đính chính (0)
Văn bản đính chính (0)
Văn bản được hợp nhất (0)
Văn bản hợp nhất (0)
Tiếng anh