- NGHỊ ĐỊNH SỐ: 55/1999/NĐ-CP NGÀY 10 THÁNG 7 NĂM 1999 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA PHÁP LỆNH VỀ NGƯỜI TÀN TẬT
- Chương 1: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI ÁP DỤNG
- Điều 1. Bảo vệ, giúp đỡ và tạo điều kiện để người tàn tật hòa nhập cộng đồng là trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã hội.
- Điều 2. Người tàn tật là thương binh, bệnh binh và người hưởng chính sách như thương binh, được hưởng những chế độ ưu đãi theo ``Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng``. Ngoài ra, còn được hưởng những quyền lợi quy định chung đối với người tàn tật.
- Điều 3. Người lao động bị tàn tật do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội theo Điều lệ Bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26 tháng 01 năm 1995 của Chính phủ. Ngoài ra, còn được hưởng những quyền lợi quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 2 của Nghị định này.
- Điều 4. Người tàn tật là người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài, sinh sống, làm việc tại Việt Nam được áp dụng những quy định của Pháp lệnh về người tàn tật như sau:
- Điều 5. Người tàn tật được giám định về dạng tật và mức độ tàn tật, để làm căn cứ thực hiện các chính sách trợ giúp theo quy định của Pháp lệnh về người tàn tật.
- Chương 2: NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ TRỢ GIÚP NGƯỜI TÀN TẬT
- Điều 6. Mức trợ cấp thường xuyên tối thiểu do ngân sách nhà nước cấp đối với người tàn tật nặng không có nguồn thu nhập và không nơi nương tựa; người tàn tật nặng, tuy có người thân thích nhưng già yếu, gia đình nghèo không đủ khả năng kinh tế để chăm sóc theo quy định tại khoản 2 Điều 12 của Pháp lệnh về người tàn tật như sau:
Điều này bị thay thế bởi Khoản 3 Điều 24 Nghị định 67/2007/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 28/05/2007
Điều này được hướng dẫn bởi Mục I Thông tư 13/2000/TT-BLĐTBXH có hiệu lực từ ngày 27/05/2000 - Điều 7. Việc bảo đảm khám, chữa bệnh miễn phí đối với người tàn tật nặng, không có nguồn thu nhập và không nơi nương tựa, người tâm thần phân liệt và người tàn tật nghèo, được thực hiện theo Nghị định số 95/CP ngày 27 tháng 8 năm 1994 của Chính phủ về thu một phần viện phí.
Điều này được hướng dẫn bởi Mục II Thông tư 13/2000/TT-BLĐTBXH có hiệu lực từ ngày 27/05/2000
- Điều 8. Người tàn tật được các cơ sở chỉnh hình phục hồi chức năng của Nhà nước chỉ định cần có chân tay giả, dụng cụ chỉnh hình thì được mua theo giá quy định của Nhà nước hoặc được xét cấp không phải trả tiền do ủy ban nhân dân xã, phường đề nghị với cơ quan y tế có thẩm quyền xem xét, quyết định theo quy định sau:
- Điều 9. Nhân viên được giao nhiệm vụ thường xuyên, trực tiếp chăm sóc người tàn tật nặng trong các cơ sở nuôi dưỡng tập trung do Nhà nước quản lý, được hưởng phụ cấp theo quy định tại khoản 4 Điều 12 của Pháp lệnh về người tàn tật. Trong thời gian hưởng chế độ theo quy định này thì không được hưởng các chế độ phụ cấp khác.
- Điều 10. Người học nghề, bổ túc nghề, học sinh, sinh viên là người tàn tật đang học trong các cơ sở dạy nghề, các trường công lập, được cơ sở dạy nghề hoặc nhà trường xét giảm hoặc miễn học phí và các khoản đóng góp khác; được xét cấp học bổng và trợ cấp xã hội theo quy định hiện hành của Nhà nước, kinh phí lấy trong dự toán Ngân sách chi cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo đã được bố trí hàng năm.
Điều này được hướng dẫn bởi Mục III Thông tư 13/2000/TT-BLĐTBXH có hiệu lực từ ngày 27/05/2000
- Điều 11. Học sinh là trẻ em tàn tật không nơi nương tựa, được ủy ban nhân dân xã, phường đề nghị và được cơ sở giáo dục, nuôi dưỡng nội trú tiếp nhận, được miễn học phí; trong thời gian nội trú, được hưởng trợ cấp xã hội là 100.000 đồng/tháng và được cấp sách, vở, đồ dùng học tập phù hợp với bậc học, theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, từ kinh phí sự nghiệp giáo dục - đào tạo đã được bố trí hàng năm.
- Điều 12. Lao động và việc làm của người tàn tật, thực hiện theo Nghị định số 81/CP ngày 23 tháng 11 năm 1995 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết một số điều của Bộ Luật Lao động về lao động là người tàn tật.
- Điều 13. Các cơ quan hành chính nhà nước từ cấp huyện trở lên, các đơn vị sự nghiệp có nhu cầu tuyển mới cán bộ, công chức, viên chức hoặc những công việc tuyển theo hợp đồng lao động, đều phải thông báo công khai và không được từ chối nhận người tàn tật đủ năng lực phù hợp với tiêu chuẩn chức danh công việc. Các tiêu chuẩn tuyển chọn phải được áp dụng chung cho cả người không tàn tật và người tàn tật, trừ trường hợp do có liên quan đến tính chất nghề nghiệp, công việc.
- Điều 14. Tổ chức, cá nhân trong nước hoặc nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài trợ giúp nhân đạo, viện trợ không hoàn lại cho người tàn tật, có quyền kiến nghị mục tiêu và đối tượng trợ giúp thông qua Quỹ nhân đạo trợ giúp người tàn tật, các hiệp hội sản xuất, kinh doanh của người tàn tật, các cấp chính quyền, tổ chức xã hội hoặc trợ giúp trực tiếp cho cơ sở xã hội nuôi dưỡng người tàn tật hoặc cho cá nhân người tàn tật.
- Điều 15. Uỷ ban nhân dân xã, phường có trách nhiệm thực hiện chi trợ cấp theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 6 của Nghị định này, đồng thời phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức xã hội khác của địa phương tạo các hình thức và biện pháp thích hợp trợ giúp người tàn tật theo khả năng; xem xét các trường hợp người tàn tật nặng đặc biệt khó khăn tại địa bàn quản lý, đề nghị với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện trình cơ quan có thẩm quyền quyết định thu nhận vào cơ sở xã hội của Nhà nước.
- Chương 3: TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC
- Điều 16. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ, chăm sóc người tàn tật trong phạm vi cả nước; nghiên cứu ban hành hoặc trình Chính phủ ban hành các chính sách áp dụng đối với người tàn tật về dạy nghề, tạo việc làm và trợ giúp xã hội; tổ chức và quản lý các cơ sở điều dưỡng, phục hồi chức năng cho người tàn tật là thương binh, bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh và các cơ sở xã hội khác.
- Điều 17. Căn cứ các quy định của Pháp lệnh về người tàn tật và đối tượng người tàn tật thuộc diện quản lý, hàng năm các địa phương, Bộ, ngành lập kế hoạch tài chính và dự toán ngân sách trợ giúp người tàn tật trong phạm vi được giao, gửi Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và trình cấp có thẩm quyền quyết định.
- Điều 18. Hội bảo trợ người tàn tật Việt Nam thành lập và quản lý ``Quỹ nhân đạo trợ giúp người tàn tật`` ở Trung ương.
- Chương 4: ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
- Điều 19. Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký.
- Điều 20. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính và các Bộ, ngành có liên quan và ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm hướng dẫn thực hiện Nghị định này.
- Điều 21. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
Nghị định số 55/1999/NĐ-CP ngày 10/07/1999 của Chính phủ Thi hành Pháp lệnh người tàn tật (Văn bản hết hiệu lực)
- Số hiệu văn bản: 55/1999/NĐ-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Cơ quan ban hành: Chính phủ
- Ngày ban hành: 10-07-1999
- Ngày có hiệu lực: 25-07-1999
- Ngày bị sửa đổi, bổ sung lần 1: 28-05-2007
- Ngày bị sửa đổi, bổ sung lần 2: 28-05-2007
- Ngày bị bãi bỏ, thay thế: 01-06-2012
- Tình trạng hiệu lực: Hết hiệu lực
- Thời gian duy trì hiệu lực: 4695 ngày (12 năm 10 tháng 15 ngày)
- Ngày hết hiệu lực: 01-06-2012
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Tiếng anh