- NGHỊ ĐỊNH:
- Điều 1.- Ban hành kèm theo Nghị định này Quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, thay thế Quy chế khu chế xuất đã ban hành theo Nghị định 322/HĐBT ngày 18 tháng 10 năm 1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), Quy chế khu công nghiệp đã ban hành kèm theo Nghị định 192/CP ngày 28 tháng 12 năm 1994 của Chính phủ.
- Điều 2.- Nghị định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký. Các quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.
- Điều 3.- Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ có liên quan, Ban quản lý các khu công nghiệp Việt Nam, chịu trách nhiệm hướng dẫn chi tiết việc thi hành Quy chế ban hành kèm theo Nghị định này.
- Điều 4.- Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Trưởng Ban quản lý các khu công nghiệp Việt Nam, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm thi hành Nghị định này.
- QUY CHẾ KHU CÔNG NGHIỆP, KHU CHẾ XUẤT, KHU CÔNG NGHỆ CAO
Quy chế này bị thay thế bởi Điều 2 Nghị định 99/2003/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 18/09/2003
- Chương 1: QUY ĐỊNH CHUNG
- Điều 1.- Chính phủ khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam thuộc các thành phần kinh tế, các tổ chức kinh tế, cá nhân nước ngoài và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao (gọi chung và tắt là KCN, trừ trường hợp có quy định riêng cho từng loại khu) trên cơ sở Quy chế này và các quy định của pháp luật Việt Nam.
- Điều 2.- Trong Quy chế này các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
- Điều 3.- Việc phát triển các KCN phải tuân theo quy hoạch tổng thể đã được Chính phủ phê duyệt. Trường hợp muốn hình thành KCN đã có trong quy hoạch tổng thể, thì Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) chỉ đạo việc lập báo cáo nghiên cứu khả thi thành lập KCN và trình duyệt theo quy định hiện hành. Trường hợp muốn hình thành KCN chưa có trong quy hoạch tổng thể thì Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Công nghiệp, Bộ Xây dựng, Ban quản lý các khu công nghiệp Việt Nam và các cơ quan liên quan (nếu cần) trên cơ sở đề nghị của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định chủ trương hình thành KCN đó.
- Điều 4.- Khi trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định việc thành lập KCN, cơ quan xem xét, thẩm định dự án làm rõ các xấn đề sau:
- Điều 5.- Việc quản lý đầu tư, xây dựng và quản lý đấu thầu với hoạt động của các doanh nghiệp KCN phải tuân thủ quy định hiện hành của pháp luật Việt
- Điều 6.- Trong KCN có các loại doanh nghiệp sau đây:
- Điều 7.- Trong KCN, các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, doanh nghiệp Việt Nam thuộc các thành phần kinh tế, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được đầu tư vào các lĩnh vực:
- Chương 2: DOANH NGHIỆP KCN
- Điều 8.- Doanh nghiệp KCN có đủ cơ sở pháp lý hoạt động trong KCN sau khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ra quyết định chấp thuận đầu tư hoặc cấp giấy phếp đầu tư và giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
- Điều 9.- Thời hạn hoạt động của doanh nghiệp KCN không quá 50 năm và không vượt quá thời hạn hoạt động của Công ty phát triển hạ tầng KCN, được tính từ ngày doanh nghiệp được cấp có thẩm quyền ra quyết định chấp thuận đầu tư hoặc cấp giấy phép đầu tư vào KCN.
- Điều 10.- Doanh nghiệp KCN có các quyền:
- Điều 11.- Doanh nghiệp KCN có nghĩa vụ:
- Chương 3: XÂY DỰNG VÀ KINH DOANH CÔNG TRÌNH KẾT CẤU HẠ TẦNG KCN
- Điều 12.- Chính phủ khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp Việt Nam thuộc các thành phần kinh tế, các nhà đầu tư nước ngoài dưới hình thức liên doanh với doanh nghiệp Việt Nam đầu tư, xây dựng và kinh doanh các công trình kết cấu hạ tầng KCN (sau đây gọi là Công ty phát triển hạ tầng KCN) được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật. Tuỳ theo quy mô và tính chất, một KCN có thể có một hoặc nhiều Công ty phát triển hạ tầng KCN.
- Điều 13.- Sau khi có quyết định chấp thuận đầu tư hoặc giấy phép đầu tư của cấp có thẩm quyền, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định từng trường hợp cụ thể việc cho phép Công ty phát triển hạ tầng KCN là doanh nghiệp Việt Nam thuộc các thành phần kinh tế (không áp dụng cho trường hợp doanh nghiệp Việt Nam tham gia doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam) được chậm nộp tiền thuê đất trong khoảng thời gian nhất định (tuỳ theo quy mô của dự án đầu tư, địa bàn hoạt động, khả năng tài chính của doanh nghiệp), dưới hình thức cho doanh nghiệp được nhận nợ tiền thuê đất thuộc vốn ngân sách Nhà nước.
- Điều 14
- Điều 15.- Trong trường hợp việc xây dựng nhà xưởng tuy phải phân kỳ sử dụng đất, doanh nghiệp KCN vẫn được phép thuê lại một phần toàn bộ diện tích đất cần thiết, nhưng phải có kế hoạch phân kỳ sử dụng diện tích đất được thuê trong thời hạn tối đa là hai (2) năm. Doanh nghiệp KCN phải gửi kế hoạch phân kỳ sử dụng diện tích đất được thuê về Công ty phát triển hạ tầng KCN (đã cho thuê lại đất), Sở Địa chính và Ban quản lý KCN cấp tỉnh. Nếu vì lý do bất khả kháng hoặc có lý do chính đáng mà không hoàn thành kế hoạch sử dụng đất đã cam kết thì ít nhất ba mươi (30) ngày trước khi kết thúc thời hạn quy định, doanh nghiệp KCN phải xin gia hạn quyền sử dụng đất. Nếu quá thời hạn quy định, doanh nghiệp không xin phép gia hạn hoặc vì sử dụng đất sai mục đích nên không được phép gia hạn thì phần đất thuê lại chưa sử dụng sẽ bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét, quyết định các biện pháp chế tài, nếu tái phạm sẽ áp dụng hình thức thu hồi.
- Chương 4: QUAN HỆ LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP KCN
- Điều 16.- Quan hệ lao động trong doanh nghiệp KCN được điều chỉnh theo quy định của Bộ Luật Lao động Việt Nam ngày 23 tháng 06 năm 1994 và các văn bản pháp luật khác có liên quan.
- Điều 17.- Tuỳ theo theo điều kiện cụ thể của ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Trung tâm dịch vụ việc làm thuộc Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh để thực hiện đầy đủ chức năng của trung tâm dịch vụ việc làm quy định tại Nghị định 72/CP ngày 31 tháng 10 năm 1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Bộ Luật Lao động về việc làm.
- Điều 18.- Việc tuyển dụng lao động vào làm việc tại các doanh nghiệp KCN theo quy định tại Nghị định 72/CP nêu trên và các văn bản hướng dẫn có liên quan.
- Chương 5: QUẢN LÝ TÀI CHÍNH VÀ NGOẠI HỐI
- Điều 19.- Nghĩa vụ nộp thuế của các doanh nghiệp KCN
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 8 Mục II Thông tư 162/1997/TT-TCHQ có hiệu lực từ ngày 14/07/1997
- Điều 20. Ngân hàng Thương mại Việt Nam, Ngân hàng liên doanh giữa Việt Nam với nước ngoài, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam có quyền hoạt động trong KCN khi được sự chấp thuận của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh.
- Chương 6: TỔ CHỨC QUẢN LÝ KCN
- Điều 21.- Nội dung quản lý Nhà nước đối với KCN bao gồm:
- Điều 22.- Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (gọi chung là cơ quan Chính phủ) thực hiện nhệm vụ quản lý Nhà nước đối với KCN và Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định hiện hành và uỷ quyền cho Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh thực hiện một số nhiệm vụ quản lý Nhà nước đối với KCN.
- Điều 23.- Trách nhiệm quản lý Nhà nước đối với KCN:
- Điều 25.- Các cơ quan chuyên ngành Thương mại, Tài chính, Hải quan, Công an và các chuyên ngành cần thiết khác đặt cơ quan đại diện đủ thẩm quyền giải quyết trực tiếp công việc tại từng KCN hoặc từng cụm KCN. Các cơ quan này do các cơ quan chuyên ngành cấp trên thành lập, quy định việc hoạt động, chỉ đạo và hướng dẫn nghiệp vụ. Biên chế và kinh phí cho hoạt động của các cơ quan này do các cơ quan chuyên ngành cấp trên quyết định và bố trí.
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Mục I Thông tư 162/1997/TT-TCHQ có hiệu lực từ ngày 14/07/1997
- Điều 26.- Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi có KCN có nhiệm vụ và quyền hạn:
- Điều 27.- Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh là cơ quan trực tiếp quản lý các KCN có nhiệm vụ và quyền hạn:
- Điều 28.- Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh gồm: Trưởng ban, một số Phó Trưởng ban, một số uỷ viên; có bộ máy giúp việc; được sử dụng con dấu có hình Quốc huy.
- Điều 29.- Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh là đơn vị dự toán ngân sách nhà nước. Các khoản thu ngân sách trên địa bàn KCN phải nộp vào ngân sách Nhà nước. Các khoản chi cho hoạt động của Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh do ngân sách Nhà nước đài thọ.
- Điều 30. Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc xây dựng, tổng hợp và trình các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền về kế hoạch phát triển KCN về những vấn đề quy định tại khoản 2 và 3 Điều 4 Quy chế này. Sau khi kế hoạch được phê duyệt thì cùng với cơ quan có thẩm quyền phân bổ chỉ tiêu kế hoạch.
- Điều 31.- Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh quản lý nhiều KCN thì có đại diện của mình tại từng KCN.
- Điều 32
- Điều 33.- Thẩm quyền gia quyết định chấp nhận đầu tư, cấp giấy phép đầu tư cũng như quy trình thẩm định đối với các dự án đầu tư trong nước và các dự án nhóm A đầu tư nước ngoài đầu tư vào KCN được thực hiện theo các quy định hiện hành.
- Chương 7: MỘT SỐ QUY ĐỊNH ÁP DỤNG RIÊNG CHO KHU CHẾ XUẤT VÀ DOANH NGHIỆP CHẾ XUẤT
- Điều 34.- Khu chế xuất và doanh nghiệp chế xuất được ngăn cách với vùng lãnh thổ bên ngoài bằng hệ thống tường rào, có cổng và cửa ra vào.
- Điều 35.- Chỉ những nhà đầu tư, cán bộ, công nhân, viên chức làm việc trong khu chế xuất và doanh nghiệp chế xuất và những người có quan hệ công tác với các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong khu chế xuất và doanh nghiệp chế xuất mới được ra vào khu chế xuất và doanh nghiệp chế xuất.
- Điều 36.- Công dân Việt
- Điều 37.- Việc ra vào, đi lại và các sinh hoạt khác trong khu chế xuất và doanh nghiệp chế xuất do Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh quy định trong điều lệ quản lý KCN.
- Điều 38.- Hàng hoá, hành lý và ngoại hối từ nước ngoài nhập khẩu vào khu chế xuất hoặc doanh nghiệp chế xuất (trực tiếp hoặc qua các cửa khẩu của Việt Nam) và từ khu chế xuất hoặc doanh nghiệp chế xuất xuất khẩu ra nước ngoài (trực tiếp hoặc qua các cửa khẩu của Việt Nam) được miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; phải chịu sự kiểm tra, giám sát về hải quan theo các quy định của pháp luật hải quan Việt Nam và phải nộp lệ phí hải quan (nếu có).
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 9 Mục II Thông tư 162/1997/TT-TCHQ có hiệu lực từ ngày 14/07/1997
Điều này được hướng dẫn bởi Công văn 2952/TCHQ-GSQL năm 1998 có hiệu lực từ ngày 25/08/1998 - Điều 39
- Điều 40 Quan hệ trao đổi hàng hoá giữa các doanh nghiệp trong thị trường nội địa với các doanh nghiệp chế xuất được coi là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu và phải tuân thủ các quy định của pháp luật xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam. Trong trường hợp này, bên mua và bên bán phải thực hiện các thủ tục hải quan tại KCN theo pháp luật về hải quan của Việt Nam và được miễn thủ tục xét duyệt kế hoạch xuất, nhập khẩu.
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 10 Mục II Thông tư 162/1997/TT-TCHQ có hiệu lực từ ngày 14/07/1997
Điều này được hướng dẫn bởi Công văn 3606/TCHQ-GSQL năm 1998 có hiệu lực từ ngày 08/10/1998 - Điều 41
- Điều 42 Các doanh nghiệp chế xuất được ký hợp đồng gia công và hợp đồng dịch vụ với các doanh nghiệp Việt Nam thuộc các thành phần kinh tế và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo các quy định của pháp luật.
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 13 Mục II Thông tư 162/1997/TT-TCHQ có hiệu lực từ ngày 14/07/1997
- Điều 43
- Điều 44.- Hàng hoá vận chuyển giữa khu chế xuất hoặc doanh nghiệp chế xuất này với khu chế xuất hoặc doanh nghiệp chế xuất khác trên lãnh thổ Việt Nam phải thực hiện theo phương thức công-ten-nơ (container), thùng và kiện hàng niêm phong hải quan, có nhân viên hải quan áp tải và được miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
- Điều 45.- Người nước ngoài hoạt đông ở khu chế xuất hoặc doanh nghiệp chế xuất mang ngoại hối vào Việt Nam phải làm thủ tục hải quan tại cơ quan hải quan cửa khẩu khi nhập cảnh; khi xuất cảnh, được mang ra nước ngoài số ngoại hối chưa sử dụng.
- Điều 46.- Việc mang ngoại hối từ nội địa vào khu chế xuất hoặc doanh nghiệp chế xuất và từ khu chế xuất hoặc doanh nghiệp chế xuất vào nội địa phải tuân thủ Điều lệ quản lý ngoại hối của Việt
- Điều 47.- Việc mua bán, thanh toán, chuyển nhượng và các quan hệ giao dịch khác giữa các doanh nghiệp chế xuất với nhau thực hiện bằng đồng tiền tự do chuyển đổi thông qua tài khoản ngân hàng và sổ sách kế toán phải ghi bằng đồng tiền tự do chuyển đổi.
- Điều 48.- Doanh nghiệp chế xuất khi xuất khẩu hàng hoá hoặc dịch vụ thu ngoại tệ phải gửi ngoại tệ thu được vào tài khoản mở tại ngân hàng. Các khoản chi của doanh nghiệp phải thông qua tài khoản nêu trên.
- Điều 49.- Những hành vi vi phạm các điều khoản của chương này, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, được coi là vi phạm thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát hải quan, hoặc hành vi buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá, ngoại hối, tiền Việt nam qua biên giới và bị xử lý theo pháp luật hải quan Việt Nam .
- Chương 8: MỘT SỐ QUY ĐỊNH ÁP DỤNG RIÊNG CHO KHU CÔNG NGHỆ CAO
- Điều 50.- Mục tiêu của khu công nghệ cao là phát triển công nghiệp kỹ thuật cao, thu hút công nghệ cao của nước ngoài, tiếp thu và chuyển giao công nghệ cao và nâng cao năng lực công nghệ cao trong nước.
- Điều 51.- Chính phủ khuyến khích người Việt Nam định cư ở nước ngoài gồm người có quốc tịch Việt Nam hoặc người Việt Nam có quốc tịch khác, các tổ chức kinh tế ở nước ngoài được thành lập bằng vốn của người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư xây dựng và phát triển khu công nghệ cao tại Việt Nam. Các đối tượng này khi đầu tư vào khu công nghệ cao sẽ được hưởng ưu đãi theo quy định tại Điều 44 Luật đầu tư nước ngoài tại Việt
- Điều 52.- Chính phủ khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các nhà khoa học, chuyên gia nước ngoài, các doanh nghiệp công nghệ cao nước ngoài đến làm việc và đầu tư xây dựng, phát triển các khu công nghệ cao tại Việt Nam.
- Điều 53.- Ngoài các doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao (kể cả các doanh nghiệp chế xuất) thuộc các loại hình doanh nghiệp theo quy định tại Điều 6 Quy chế này, trong khu công nghệ cao còn thành lập: các đơn vị nghiên cứu - triển khai khoa học - công nghệ, các cơ sở đào tạo chuyên ngành và các tổ chức dịch vụ liên quan.
- Điều 54.- Các đơn vị nghiên cứu - triển khai, đào tạo và dịch vụ khoa học - công nghệ trong khu công nghệ cao được hưởng các ưu đãi theo các quy định hiện hành về hoạt động khoa học - công nghệ.
- Chương 9: XỬ LÝ TRANH CHẤP, VI PHẠM
Chương này được hướng dẫn bởi Mục III Thông tư 162/1997/TT-TCHQ có hiệu lực từ ngày 14/07/1997
- Điều 55.- Các vụ án hình sự xảy ra trong KCN thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân theo quy định của pháp luật.
- Điều 56.- Nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, doanh nghiệp KCN, Công ty phát triển hạ tầng KCN, tổ chức, cá nhân, viên chức, cơ quan Nhà nước vi phạm các quy định của Quy chế này thì tuỳ theo mức độ vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.
- Điều 57.- Nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, doanh nghiệp KCN, Công ty phát triển hạ tầng KCN, tổ chức, cá nhân được quyền khiếu nại, khởi kiện đối với các quyết định và hành vi trái với Quy chế này, gây khó khăn, phiền hà của viên chức, cơ quan Nhà nước.
- Chương 10: ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
- Điều 58.- Những quy định khác liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp KCN không quy định trong Quy chế này được thực hiện theo các điều khoản tương ứng của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt nam, Luật Khuyến khích đầu tư trong nước, Luật doanh nghiệp Nhà nước, Luật Hợp tác xã, Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp tư nhân, Luật Đất đai và các văn bản quy phạm pháp luật khác.
- Điều 59.- Quy chế này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký. Các KCN được thành lập trước ngày có hiệu lực của Quy chế này vẫn phải thực hiện các quy định trong Quy chế này, trừ trường hợp Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh đề nghị và được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận việc tiếp tục thực hiện theo Quy chế khu chế xuất (Nghị định 322/HĐBT ngày 18 tháng 10 năm 1991 của Hội đồng Bộ trưởng nay là Chính phủ) và Quy chế khu công nghiệp (Nghị định 192/CP ngày 28 tháng 12 năm 1994 của Chính phủ), trong thời hạn tối đa 1 (một) năm kể từ ngày Quy chế này có hiệu lực.
Nghị định số 36-CP ngày 24/04/1997 của Chính phủ Về Quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao (Văn bản hết hiệu lực)
- Số hiệu văn bản: 36-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Cơ quan ban hành: Chính phủ
- Ngày ban hành: 24-04-1997
- Ngày có hiệu lực: 09-05-1997
- Ngày bị sửa đổi, bổ sung lần 1: 18-09-2003
- Ngày bị sửa đổi, bổ sung lần 2: 18-09-2003
- Ngày bị bãi bỏ, thay thế: 25-10-2006
- Tình trạng hiệu lực: Hết hiệu lực
- Thời gian duy trì hiệu lực: 3456 ngày (9 năm 5 tháng 21 ngày)
- Ngày hết hiệu lực: 25-10-2006
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Tiếng anh