- NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 32-CP NGÀY 14 THÁNG 4 NĂM 1997 BAN HÀNH QUY CHẾ VỀ CƠ SỞ GIÁO DỤC
- Điều 1.- Nay ban hành kèm theo Nghị định này "Quy chế về cơ sở giáo dục".
- Điều 2.- Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký, những quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.
- Điều 3.- Các Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
- QUY CHẾ VỀ CƠ SỞ GIÁO DỤC
- Chương 1: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
- Điều 1.- Đưa vào cơ sở giáo dục là biện pháp xử lý hành chính buộc những người thuộc diện quy định tại khoản 1 Điều 2 của Quy chế này phải học tập, lao động và chịu sự quản lý của cơ sở giáo dục từ 6 tháng đến 2 năm nhằm giáo dục họ trở thành công dân lương thiện.
- Điều 2.- Đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục bao gồm những người có hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm tài sản của Nhà nước, tài sản của các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, tài sản của các tổ chức nước ngoài, tài sản, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của công dân, của người nước ngoài và vi phạm trật tự, an toàn xã hội có tính chất thường xuyên nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, đã được chính quyền và nhân dân địa phương giáo dục nhiều lần mà vẫn không chịu sửa chữa. Không đưa vào cơ sở giáo dục người chưa đủ 18 tuổi, nữ trên 55 tuổi, nam trên 60 tuổi.
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Thông tư 07/1998/TT-BCA có hiệu lực từ ngày 8/12/1998
- Điều 3.- Việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục phải bảo đảm đúng người, đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền quy định tại Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và Quy chế này.
- Điều 4.- Cơ sở giáo dục là nơi học tập, lao động và sinh hoạt tập trung của người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục.
- Điều 5.- Kinh phí cho việc xây dựng cơ bản, tổ chức hoạt động và mua sắm trang thiết bị của cơ sở giáo dục do Bộ Nội vụ cấp trên cơ sở kế hoạch ngân sách Nhà nước phân bổ hàng năm.
- Chương 2: THỦ TỤC ĐƯA NGƯỜI VÀO CƠ SỞ GIÁO DỤC
- Điều 6.- Đối với người thuộc đối tượng cần đưa vào cơ sở giáo dục thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi người đó cư trú, xem xét, lập hồ sơ, gửi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện.
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 9 Thông tư 07/1998/TT-BCA có hiệu lực từ ngày 8/12/1998
- Điều 7.- Sau khi nhận được hồ sơ đề nghị đưa người vào cơ sở giáo dục, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh gửi ngay hồ sơ đó cho Hội đồng tư vấn.
- Điều 8.- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định việc đưa người vào cơ sở giáo dục trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Hội đồng tư vấn.
- Điều 9.- Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận được quyết định đưa người vào cơ sở giáo dục, cơ quan Công an cấp tỉnh phải tổ chức đưa người đó vào cơ sở giáo dục.
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 4 Thông tư 07/1998/TT-BCA có hiệu lực từ ngày 8/12/1998
- Điều 10.- Khi đưa người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục phải có hồ sơ kèm theo bao gồm:
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Thông tư 07/1998/TT-BCA có hiệu lực từ ngày 8/12/1998
- Điều 11.- Người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, nếu không tự giác chấp hành hoặc trốn tránh, chống đối thì cơ quan Công an áp dụng những biện pháp ngăn chặn và cưỡng chế cần thiết theo quy định của pháp luật để buộc người đó phải thi hành.
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 8 Thông tư 07/1998/TT-BCA có hiệu lực từ ngày 8/12/1998
- Điều 12.- Người đã có quyết định đưa vào cơ sở giáo dục đang ở ngoài xã hội mà bỏ trốn thì Giám đốc Công an cấp tỉnh ra lệnh truy bắt, tạm giữ người theo thủ tục hành chính. Người đang chấp hành tại cơ sở giáo dục mà bỏ trốn thì Giám đốc cơ sở giáo dục ra lệnh truy bắt đưa về cơ sở giáo dục. Thời gian trốn khỏi cơ sở giáo dục không được tính vào thời gian chấp hành quyết định.
- Chương 3: TỔ CHỨC CƠ SỞ GIÁO DỤC VÀ QUẢN LÝ TRẠI VIÊN
- Điều 13.- Bộ trưởng Bộ Nội vụ quyết định việc thành lập cơ sở giáo dục; bổ nhiệm, miễn nhiệm Giám đốc, Phó giám đốc; quyết định biên chế và tổ chức bộ máy của cơ sở giáo dục.
- Điều 14.- Giám đốc cơ sở giáo dục có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
- Điều 15.- Tiêu chuẩn của Giám đốc, Phó giám đốc và cán bộ, nhân viên của cơ sở giáo dục:
- Điều 16.- Cơ sở giáo dục được tiếp nhận sự tài trợ, giúp đỡ về vật chất của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; được tham gia hợp đồng liên doanh liên kết với các tổ chức, cá nhân, cơ sở kinh tế quy định của pháp luật.
- Điều 17.- Cơ sở giáo dục được quy hoạch, thiết kế xây dựng theo quy định thống nhất của Bộ Nội vụ, phù hợp với đặc điểm, yêu cầu của công tác quản lý giáo dục và đảm bảo tiêu chuẩn về phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường.
- Điều 18.- Giám đốc cơ sở giáo dục căn cứ vào số lượng trại viên, thời hạn giáo dục, đặc điểm nhân thân, tính chất, mức độ vi phạm, tình trạng sức khoẻ, giới tính và lứa tuổi của họ để tổ chức quản lý cho phù hợp.
- Điều 19.- Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định chế độ, cách thức sử dụng tiền mặt và danh mục đồ vật cho phép hoặc cấm trại viên đem vào cơ sở giáo dục.
- Điều 20.- Việc trích xuất trại viên ra khỏi cơ sở giáo dục để phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử hoặc trong những trường hợp đặc biệt khác chỉ được thực hiện theo lệnh trích xuất của cơ quan có thẩm quyền.
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 12 Thông tư 07/1998/TT-BCA có hiệu lực từ ngày 8/12/1998
- Điều 21.- Giám đốc cơ sở giáo dục định kỳ đánh giá kết quả giáo dục, sự tiến bộ của trại viên. Đối với những người đã chấp hành được một nửa thời hạn, nếu có tiến bộ rõ rệt hoặc lập công thì lập hồ sơ đề nghị Bộ trưởng Bộ Nội vụ xem xét quyết định giảm thời hạn chấp hành.
- Điều 22.- Trại viên đã chấp hành xong thời hạn giáo dục, thì Giám đốc cơ sở giáo dục phải cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong thời hạn giáo dục cho họ.
- Chương 4: CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI TRẠI VIÊN
- Điều 23.- Trại viên phải lao động, học tập và sinh hoạt dưới sự quản lý, giám sát của cơ sở giáo dục. Trại viên được bố trí ở theo buồng tập thể, có giường (hoặc sàn nằm), có chiếu, màn. Chỗ nằm tối thiểu của mỗi người không dưới 2,5 m2. Khu vực ở của nam, nữ tách riêng.
- Điều 24.- Mỗi năm, mỗi trại viên được cấp 2 bộ quần áo dài, 2 bộ quần áo lót, 2 khăn mặt, 1 đôi dép, 1 bàn chải đánh răng, 1 áo mưa, 1 chiếc mũ. Mỗi quý được cấp 1 hộp kem đánh răng, 0,6 kg xà phòng. Ba năm được cấp 1 chăn, 1 màn. Đối với những vùng rét phía Bắc được cấp thêm 1 áo ấm và 1 chăn bông dùng trong 3 năm.
- Điều 25.- Định mức ăn hàng tháng của trại viên được quy định như sau: gạo 15kg; thịt hoặc cá 0,8kg; đường 0,3kg; muối 0,5kg; nước mắm 1 lít; rau xanh 15kg; chất đốt 15kg củi hoặc tương đương; tiền thuốc hàng tháng tương đương với 1kg gạo. Ngày lễ, ngày Tết định mức ăn có thể cao hơn nhưng không quá 5 lần ngày thường.
- Điều 26.- Trại viên được hoạt động thể dục thể thao, văn hoá văn nghệ, được đọc sách báo, nghe đài, xem vô tuyến truyền hình theo quy định của Bộ Nội vụ.
- Điều 27.- Trong thời gian ở cơ sở giáo dục trại viên được khám sức khoẻ định kỳ 6 tháng một lần.
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 10 Thông tư 07/1998/TT-BCA có hiệu lực từ ngày 8/12/1998
- Điều 28.- Trường hợp trại viên bị chết thì cơ sở giáo dục phải báo ngay cho cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân và cơ quan y tế gần nhất đến lập biên bản xác nhận nguyên nhân chết, có trại viên cùng cơ sở làm chứng, đồng thời thông báo cho thân nhân người chết biết.
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 13 Thông tư 07/1998/TT-BCA có hiệu lực từ ngày 8/12/1998
- Điều 29.- Trại viên lao động mỗi ngày 8 giờ, được nghỉ các ngày chủ nhật, ngày lễ, ngày Tết theo quy định của pháp luật. Trường hợp có công việc đột xuất, Giám đốc có thể yêu cầu làm thêm giờ nhưng cũng không quá 2 giờ trong một ngày và sẽ được nghỉ bù.
- Điều 30.- Trại viên phải hoàn thành định mức lao động được giao. Kết quả lao động được cơ sở giáo dục thống nhất quản lý sau khi trừ những chi phí hợp lý được sử dụng để bù đắp một phần cho chi phí ăn uống, khám chữa bệnh, chi phí cho việc khen thưởng cán bộ chiến sĩ của cơ sở giáo dục có thành tích trong tổ chức quản lý sản xuất; thưởng cho trại viên có thành tích trong lao động và học tập, bổ sung một phần cho quỹ phúc lợi của cơ sở. Nộp ngân sách Nhà nước để đầu tư trở lại mở rộng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất của cơ sở giáo dục.
- Điều 31.- Đối với những công việc mà pháp luật quy định phải có bảo hộ lao động thì cơ sở giáo dục có trách nhiệm trang bị quần áo, thiết bị bảo hộ lao động phù hợp với yêu cầu của công việc. Trường hợp làm ca đêm, làm việc ngoài giờ theo yêu cầu đột xuất, làm việc trong các điều kiện độc hại hoặc công việc nặng nhọc thì được bồi dưỡng hiện vật hoặc bằng tiền.
- Điều 32.- Trại viên được học văn hoá để xoá mù chữ mỗi tuần 2 buổi, mỗi buổi 4 giờ. Căn cứ vào điều kiện cụ thể của cơ sở, Giám đốc có thể sắp xếp thời gian học văn hoá cho những đối tượng khác.
- Điều 33.- Trại viên được gặp người thân 1 tháng 2 lần. Mỗi lần không quá 2 giờ tại nhà tiếp đón của cơ sở và phải chấp hành đúng những quy định về thăm gặp. Trường hợp gặp lâu hơn thì phải được sự đồng ý của Giám đốc cơ sở giáo dục, nhưng cũng không quá 4 giờ.
- Điều 34.- Trại viên chấp hành tốt Quy chế, nội quy cơ sở giáo dục, tích cực học tập, lao động vượt chỉ tiêu hoặc có những thành tích đột xuất, sẽ được Giám đốc cơ sở giáo dục quyết định khen thưởng bằng các hình thức: biểu dương, thưởng tiền mặt hoặc hiện vật, tăng số lần và thời gian gặp gỡ người thân, được đề nghị giảm thời hạn chấp hành tại cơ sở giáo dục theo quy định tại Điều 72 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 11 và 15 Thông tư 07/1998/TT-BCA có hiệu lực từ ngày 8/12/1998
- Điều 35.- Trại viên vi phạm Quy chế, nội quy cơ sở giáo dục, chây lười lao động, học tập không tự giác sửa chữa lỗi lầm, thường xuyên không hoàn thành định mức lao động được giao, thì tuỳ theo tính chát và mức độ vi phạm, Giám đốc cơ sở giáo dục sẽ quyết định kỷ luật bằng các hình thức sau: Cảnh cáo, hạn chế số lần gặp người thân và nhận quà hoặc bị cách ly tại buồng kỷ luật từ 7 đến 10 ngày. Nếu vi phạm tới mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì đề nghị cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ truy tố trước pháp luật. Trường hợp vi phạm chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng đã được giáo dục và bị kỷ luật nhiều lần, đến khi hết thời hạn giáo dục tại cơ sở vẫn không chịu sửa chữa, thuộc đối tượng cần phải áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục thì Giám đốc cơ sở giáo dục lập hồ sơ báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi cơ sở giáo dục đóng xem xét quyết định việc đưa người đó vào cơ sở giáo dục theo thủ tục quy định tại Điều 7 và Điều 8 Quy chế này. Quyết định đưa người
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 14 và 15 Thông tư 07/1998/TT-BCA có hiệu lực từ ngày 8/12/1998
- Điều 36.- Trại viên có quyền khiếu nại, tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật theo quy định tại Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và các quy định khác của pháp luật.
- Chương 5: TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC QUẢN LÝ CƠ SỞ GIÁO DỤC
- Điều 37.- Bộ Nội vụ có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra giám sát việc thực hiện biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục đảm bảo cho các hoạt động đó theo đúng quy định của pháp luật; ban hành nội quy cơ sở giáo dục và các biểu mẫu để thực hiện thống nhất; phối hợp với các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh để thực hiện biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục.
- Điều 38.- Bộ Tài chính có trách nhiệm cấp kinh phí cho cơ sở giáo dục theo dự toán ngân sách hàng năm của Bộ Nội vụ đã được duyệt.
- Điều 39.- Bộ Y tế có trách nhiệm phối hợp với Bộ Nội vụ hướng dẫn việc phòng, khám chữa bệnh cho những người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục
- Điều 40.- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm phối hợp với Bộ Nội vụ trong việc dạy văn hoá, dạy nghề và thực hiện các chế độ bảo hiểm lao động cho người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục theo quy định của pháp luật.
- Điều 41.- Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm cấp đất, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ sở giáo dục tại địa phương mình; giúp đỡ những người đã chấp hành xong quyết định đưa vào cơ sở giáo dục tìm việc làm, sớm hoà nhập với cuộc sống cộng đồng.
- Điều 42.- Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn chi tiết thi hành Quy chế này.
Nghị định số 32-CP ngày 14/04/1997 của Chính phủ Ban hành Quy chế về cơ sở giáo dục (Văn bản hết hiệu lực)
- Số hiệu văn bản: 32-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Cơ quan ban hành: Chính phủ
- Ngày ban hành: 14-04-1997
- Ngày có hiệu lực: 29-04-1997
- Ngày bị bãi bỏ, thay thế: 31-07-2003
- Tình trạng hiệu lực: Hết hiệu lực
- Thời gian duy trì hiệu lực: 2284 ngày (6 năm 3 tháng 4 ngày)
- Ngày hết hiệu lực: 31-07-2003
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Tiếng anh