- NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 60-CP NGÀY 07 THÁNG 10 NĂM 1996 QUY ĐỊNH VỀ VIỆC CHÍNH PHỦ HƯỚNG DẪN VÀ KIỂM TRA ĐỐI VỚI HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TRONG VIỆC THỰC HIỆN CÁC VĂN BẢN CỦA CƠ QUAN NHÀ NƯỚC CẤP TRÊN
- Điều 1.- Các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên được nói đến trong Pháp lệnh về giám sát và hướng dẫn của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, hướng dẫn và kiểm tra của Chính phủ đối với Hội đồng nhân dân là: Hiến pháp, Bộ luật, luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; nghị quyết, nghị định của Chính phủ; quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; thông tư liên Bộ, liên ngành.
- Điều 2.- Chính phủ ban hành Nghị định quy định những vấn đề thuộc nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ và Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn việc thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước. Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định, chỉ thị để chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc việc thi hành luật, pháp lệnh; tổ chức việc lấy ý kiến đóng góp vào việc xây dựng các Bộ luật, luật và pháp lệnh.
- Điều 3.- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ căn cứ vào các luật, pháp lệnh và các văn bản pháp luật của Nhà nước, ý kiến chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành thông tư hướng dẫn chi tiết việc thi hành các văn bản nói trên đối với những vấn đề thuộc ngành và lĩnh vực công tác do Bộ, ngành phụ trách để Hội đồng nhân dân thực hiện.
- Điều 4.- Hàng năm, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội và chương trình công tác của Chính phủ hướng dẫn Hội đồng nhân dân về các vấn đề có liên quan đến lĩnh vực công tác do mình phụ trách, tập trung chủ yếu vào các vấn đề: kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách và phê chuẩn quyết toán ngân sách, công tác bảo đảm an ninh, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội ở địa phương.
- Điều 5.- Về ngân sách, Chính phủ hướng dẫn Hội đồng nhân dân thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định tại Điều 25 của Luật ngân sách nhà nước đối với các nội dung sau đây: đối với các nội dung sau đây: đối với các nội dung sau đây:
- Điều 6.- Trong từng nhiệm kỳ Hội đồng nhân dân, Chính phủ tổ chức việc bồi dưỡng cho đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh về chính sách, pháp luật và kiến thức quản lý nhà nước.
- Điều 7.- Căn cứ vào các quy định của Nhà nước về tổ chức, biên chế bộ máy giúp việc của Thường trực Hội đồng nhân dân, chế độ tiền lương của các chức danh: Thường trực Hội đồng nhân dân và các ban của Hội đồng nhân dân; chế độ sinh hoạt phí của đại biểu Hội đồng nhân dân, Chính phủ hướng dẫn Hội đồng nhân dân bằng các văn bản của Chính phủ và của Thủ tướng Chính phủ. Bộ Tài chính, Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ hướng dẫn Hội đồng nhân dân chi tiết việc thi hành các nội dung nêu trên theo sự phân công của Chính phủ.
- Điều 8.- Chính phủ hướng dẫn Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thực hiện chế độ báo cáo định kỳ sáu tháng và một năm đối với Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ với các nội dung sau đây:
- Điều 9.- Định kỳ hoặc theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ thành lập các đoàn kiểm tra Hội đồng nhân dân trong việc thực hiện các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên. Tuỳ thuộc vào yêu cầu, nội dung cụ thể thành phần của Đoàn kiểm tra do Thủ tướng Chính phủ quyết định.
- Điều 10.- Sau khi nhận được kiến nghị của Đoàn kiểm tra, Hội đồng nhân dân phải xem xét và giải quyết các vấn đề mà Đoàn kiểm tra đã phát triển và kiến nghị, đồng thời có văn bản trả lời Đoàn kiểm tra.
- Điều 11.- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tổ chức Đoàn kiểm tra hoặc phối hợp thành lập Đoàn kiểm tra liên ngành để kiểm tra Hội đồng nhân dân trong việc thực hiện các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, bao gồm:
- Điều 12.- Thông qua công tác kiểm tra các nghị quyết của Hội đồng nhân dân nhằm triển khai, thực hiện các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nếu phát hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân có nội dung trái với quy định của văn bản cơ quan nhà nước cấp trên thì Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có quyền kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ đình chỉ việc thi hành toàn bộ hay một số điểm sai trái trong nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, đồng thời thông báo cho Hội đồng nhân dân đó biết.
- Điều 13.- Căn cứ đề nghị của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định đình chỉ thi hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh khi nghị quyết này có những nội dung trái với Hiến pháp, luật, pháp lệnh, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ hoặc yêu cầu sửa đổi. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân có quyền đình chỉ việc thi hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp khi nghị quyết này có nội dung trái với Hiến pháp, luật, pháp lệnh, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và đề nghị Hội đồng nhân dân cùng cấp bãi bỏ hoặc yêu cầu sửa đổi.
- Điều 14.- Thông qua việc thực hiện chức năng kiểm tra hoặc theo kiến nghị của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chính phủ xem xét và đề nghị với Uỷ ban thường vụ Quốc hội giải tán Hội đồng nhân dân cấp tỉnh khi Hội đồng nhân dân tỉnh có nghị quyết làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân và Nhà nước.
- Điều 15.- Nghị định này có hiệu lực từ ngày 1 tháng 11 năm 1996.
Nghị định số 60-CP ngày 07/10/1996 của Chính phủ Về việc Chính phủ hướng dẫn và kiểm tra đối với Hội đồng nhân dân trong việc thực hiện các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên
- Số hiệu văn bản: 60-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Cơ quan ban hành: Chính phủ
- Ngày ban hành: 07-10-1996
- Ngày có hiệu lực: 01-11-1996
- Tình trạng hiệu lực: Đang có hiệu lực
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Tiếng anh