- NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 19-CP NGÀY 06 THÁNG 4 NĂM 1996 BAN HÀNH QUY CHẾ GIÁO DỤC TẠI XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN ĐỐI VỚI NHỮNG NGƯỜI VI PHẠM PHÁP LUẬT
- Điều 2. Các Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em Việt Nam có trách nhiệm hướng dẫn thực hiện Quy chế ban hành kèm theo nghị định này.
- Điều 3. Nghị định này có hiệu lực từ ngày ban hành. Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng các cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành nghị định này. Những quy dịnh trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.
- QUY CHẾ GIÁO DỤC TẠI XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN ĐỐI VỚI NHỮNG NGƯỜI VI PHẠM PHÁP LUẬT
- Chương 1: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
- Điều 1. Giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với những người vi phạm pháp luật (gọi tắt là Giáo dục tại xã, phường, thị trấn) là biện pháp xử lý hành chính do Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) quyết định áp dụng đối với những quy định tại Điều 2 của Quy chế này tại nơi cư trú của họ trong thời hạn từ ba tháng đến sáu tháng. Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức, phối hợp với các cơ quan, tổ chức xã hội, đơn vị dân cư ở cơ sở và gia đình quản lý, giáo dục những người nói trên nhằm giúp đỡ họ sửa chữa sai phạm để trở thành người có ích trong xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống cộng đồng.
- Điều 2. Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn được áp dụng đối với những đối tượng sau đây:
- Điều 3. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, độ tuổi, hoàn cảnh gia đình và quan hệ xã hội của người được giáo dục tại xã, phường, thị trấn để quyết định áp dụng hình thức giáo dục tại xã và thời hạn áp dụng biện pháp này.
- Điều 4. Việc thực hiện biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn phải được tiến hành thường xuyên, kiên trì với tinh thần trách nhiệm và tình thương đối với người được áp dụng biện pháp này.
- Điều 5. Nghiêm cấm việc xâm phạm sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của người được giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc buộc người đó phải thực hiện những nghĩa vụ mà pháp luật không quy định.
- Điều 6. Hội đồng Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc cấp xã và mọi công dân giám sát việc quyết định và thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, phát hiện và tố cáo mọi hành vi vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền áp dụng biện pháp này.
- Chương 2: THỦ TỤC QUYẾT ĐỊNH BIỆN PHÁP GIÁO DỤC TẠI XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN. HÌNH THỨC VÀ TRÌNH TỰ ÁP DỤNG.
- Điều 7. Trưởng công an cấp xã, đại diện Mặt trận Tổ quốc cùng cấp, đại diện các cơ quan, tổ chức xã hội, đơn vị dân cư ở cơ sở hoặc đại diện gia đình có thể đề nghị Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân cấp xã xem xét việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với những đối tượng được quy định tại Điều 2 của Quy chế này.
- Điều 8. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân cấp xã triệu tập và chủ trì cuộc họp gồm Trưởng công an cấp xã, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc cùng cấp, đại diện đơn vị dân cư ở cơ sở. Tuỳ theo từng đối tượng được đề nghị giáo dục có thể mời đại diện của Nhà trường, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội Nông dân, Ban chăm sóc, giáo dục trẻ em, Thanh tra nhân dân, Tổ hoà giải tại cơ sở và đại diện gia đình hoặc người giám hộ của người được đề nghị tham gia cuộc họp.
- Điều 9. Trên cơ sở ý kiến đề xuất của cuộc họp quy định tại Điểu 8 của Quy chế này, chủ tịch Uỷ ban Nhân dân cấp xã xem xét, ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục đối với người được đề nghị; tuỳ từng đối tượng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã quyết định việc giao trách nhiệm cho cơ quan công an, nhà trường, tổ chức xã hội, đơn vị dân cư ở cơ sở (sau đây gọi chung là Tổ chức được giao) hoặc gia đình quản lý, giáo dục người đó.
- Điều 10. Tổ chức được giao có trách nhiệm phân công người trực tiếp giúp đỡ người được giáo dục và báo cáo với Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân cấp xã.
- Điều 11. Trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày quyết định có hiệu lực thi hành, Tổ chức được giao quản lý, giáo dục phải tổ chức cuộc họp kiểm điểm người được giáo dục.
- Điều 12. Ngay sau cuộc họp kiểm điểm, người được giáo dục phải làm ban cam kết với Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân cấp xã, trong đó nêu rõ quyết tâm và hướng sửa chữa sai phạm của mình. Bản cam kết của người chưa thành niên từ 12 đến 16 tuổi phải có ý kiến của cha, mẹ hoặc người giám hộ. Đối với người không biết chữ thì việc cam kết phải được lập thành biên bản.
- Điều 13. Người đứng đầu Tổ chức được giao trách nhiệm quản lý, giáo dục phải thường xuyên trao đổi, bàn bạc với người được phân công giúp đỡ để nắm tình hình, tiến bộ của người được giáo dục, kịp thời giúp đỡ người đó giải quyết những vướng mắc trong khi chấp hành biện pháp này; kiến nghị với Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân cấp xã về các hình thức giúp đỡ thích hợp đối với người được giáo dục như học nghề, giải quyết việc làm, cho vay vốn, trợ giúp công cụ, phương tiện; tạo điều kiện làm ăn sinh sống; động viên thăm hỏi khi ốm đau hoặc khi gia đình người được giáo dục có việc hiếu hỉ; hàng tháng báo cáo với Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân cấp xã về công việc đã làm và sự tu dưỡng của người được giáo dục.
- Điều 14. Người được giáo dục có trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh bản cam kết của mình, tích cực sửa chữa sai phạm; phải học tập, làm ăn lương thiện và tham gia các hoạt động chung ở địa phương; mỗi tháng một lần phải kiểm điểm trước Tổ chức được giao trách nhiệm quản lý giáo dục và kết quả sửa chữa sai phạm, sự tiến bộ của mình.
- Điều 15. Trong trường hợp người được giáo dục là người nghiện ma tuý, hoặc nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tài sản của gia đình thì người có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan có thể đề nghị Toà án xem xét việc hạn chế năng lực hành vi dân sự của người đó, sau đó thông báo cho Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân cấp xã.
- Điều 16. Trong thời gian chấp hành biện pháp giáo dục, người được giáo dục có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng, nhưng mỗi lần vắng mặt không được qua 1 tháng và tổng số thời gian vắng mặt không được vượt quá một phần ba (1/3) thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục; và phải tuân theo quy định sau đây:
- Điều 17. Người được giáo dục có thể đề đạt nguyện vọng, kiến nghị của mình với Tổ chức được giao trách nhiệm quản lý, giáo dục hoặc với chính quyền địa phương; có quyền khiếu nại, tố cáo về những việc làm trái pháp luật của những người có liên quan đến việc quyết định và thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật.
- Điều 18. Đối với người được giáo dục là vị thành niên thì Tổ chức được giao trách nhiệm quản lý giáo dục phải phối hợp chặt chẽ với gia đình, nhà trường, Đoàn thanh niên hoặc Đội thiếu niên để có các hình thức giáo dục thích hợp như sinh hoạt câu lạc bộ, các hoạt động văn hoá văn nghệ, lao động, thể dục thể thao và các hoạt động vui chơi giải trí lành mạnh khác.
- Điều 19. Trưởng công an cấp xã có trách nhiệm giúp Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân cùng cấp trong việc lập, quản lý hồ sơ và theo dõi sự tiến bộ của người được giáo dục. Hồ sơ gồm có:
- Điều 20. Khi hết thời hạn chấp hành biện pháp giáo dục thì Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân cấp xã cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong cho người được giáo dục.
- Điều 21. Kinh phí cho việc thực hiện biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn được trích một phần từ ngân sách của xã, phường, thị trấn; từ kinh phí của các Chương trình phòng chống tệ nạn xã hội và được huy động từ sự đóng góp tự nguyện của các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và của nhân dân.
- Chương 3: KHEN THƯỞNG - XỬ LÝ VI PHẠM
- Điều 22. Tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc thực hiện các quy định về giáo dục tại xã, phường, thị trấn được khen thưởng theo chế độ khen thưởng chung của Nhà nước.
- Điều 23. Người có thẩm quyền trong việc quyết định, thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà dung túng, bao che, xâm phạm sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của người được giáo dục hoặc vi phạm các quy định khác về giáo dục tại xã, phường, thị trấn thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại vật chất thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Nghị định số 19/CP ngày 06/04/1996 của Chính phủ Ban hành Quy chế giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với những người vi phạm pháp luật (Văn bản hết hiệu lực)
- Số hiệu văn bản: 19/CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Cơ quan ban hành: Chính phủ
- Ngày ban hành: 06-04-1996
- Ngày có hiệu lực: 06-04-1996
- Ngày bị bãi bỏ, thay thế: 06-01-2004
- Tình trạng hiệu lực: Hết hiệu lực
- Thời gian duy trì hiệu lực: 2831 ngày (7 năm 9 tháng 6 ngày)
- Ngày hết hiệu lực: 06-01-2004
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Tiếng anh