- NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 65-CP NGÀY 13-10-1995 BAN HÀNH QUY CHẾ QUẢN LÝ CÁC HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC ĐÁ QUÝ
- Điều 1. Ban hành kèm theo Nghị định này Quy chế Quản lý các hoạt động trong lĩnh vực đá quý.
- Điều 2. Nghị định này thay thế Nghị định số 67-CP ngày 7-10-1993 của Chính phủ ban hành Quy chế Quản lý các hoạt động điều tra địa chất, khai thác mỏ, chế tác và buôn bán đá quý.
- Điều 3. Bộ trưởng các Bộ Công nghiệp nặng, Tài chính, Nội vụ, Thương mại, Tổng cục trưởng Tổng cục hải quan ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Quy chế ban hành kèm theo Nghị định này.
- Điều 4. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày ban hành. Các quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.
- QUY CHẾ QUẢN LÝ CÁC HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC ĐÁ QUÝ
- Chương 1: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
- Điều 1. Đá quý nói trong Quy chế này là các loại khoáng chất tự nhiên có phẩm chất ngọc. Theo giá trị thương mại, đá quý được chia làm 2 nhóm:
- Điều 2. Mọi hoạt động khảo sát, thăm dò, khai thác, gia công chế tác đá quý; làm hàng trang sức, mỹ nghệ bằng đá quý; buôn bán và xuất khẩu, nhập khẩu đá quý (sau đây gọi là các hoạt động trong lĩnh vực đá quý) trên lãnh thổ Việt Nam đều phải tuân theo các quy định của Quy chế này và các quy định khác có liên quan của pháp luật.
- Điều 3. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với các hoạt động trong lĩnh vực đá quý theo nhiệm vụ và quyền hạn của mình.
- Điều 4. Uỷ ban Nhân dân các cấp thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với tài nguyên đá quý và các hoạt động trong lĩnh vực đá quý theo quy chế này và các quy định khác có liên quan của pháp luật; có trách nhiệm bảo vệ các khu vực có đá quý chưa giao cho các đơn vị quản lý; phối hợp với các đơn vị được giao mỏ bảo vệ các vùmg mỏ đang thăm dò, khai thác; ngăn chặn hoạt động khai thác và mua bán đá quý trái phép ở địa phương.
- Điều 5. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức kinh tế, cá nhân Việt Nam đầu tư vào lĩnh vực đá quý theo quy chế này và các quy định khác có liên quan của pháp luật.
- Điều 6. Nhà nước thừa nhận quyền sở hữu hợp pháp của các tổ chức, cá nhân có đá quý dưới dạng nguyên liệu thô, sản phẩm đã gia công chế tác.
- Điều 7. Tổng công ty đá quý và vàng Việt Nam (sau đây gọi là Tổng công ty) là doanh nghiệp Nhà nước, được thành lập để làm nòng cốt trong việc xây dựng và phát triển ngành công nghiệp đá quý và sản xuất hàng trang sức ở Việt Nam.
- Chương 2: ĐIỀU TRA ĐỊA CHẤT, KHẢO SÁT, THĂM DÒ MỎ ĐÁ QUÝ
- Điều 8. Bộ Công nghiệp nặng tổ chức thực hiện nghiên cứu, điều tra địa chất đá quý, đánh giá tiềm năng đá quý trong quá trình nghiên cứu điều tra cơ bản về địa chất và khoáng sản, bằng kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp.
- Điều 9. Tài liệu địa chất, mẫu vật đá quý thu thập trong quá trình điều tra nghiên cứu, khảo sát, thăm dò địa chất phải được bảo quản đúng theo quy định của pháp luật.
- Chương 3: KHAI THÁC ĐÁ QUÝ
- Điều 10. Tổng công ty được giao nhiệm vụ tổ chức khai thác các mỏ đá quý thuộc nhóm 1 và tận thu các khoáng sản khác đi kèm; bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, môi sinh trong quá trình khai thác.
- Điều 11. Các tổ chức kinh tế, cá nhân Việt Nam (sau đây gọi là đơn vị), muốn khai thác đá quý thuộc nhóm 1 trong các vùng mỏ đã giao cho Tổng công ty, phải thông qua đấu thầu và ký hợp đồng khai thác phân chia sản phẩm với Tổng công ty; chịu sự kiểm tra, giám sát của Tổng công ty trong quá trình khai thác.
- Điều 12 Hợp đồng khai thác phân chia sản phẩn được thoả thuận và ký kết giữa Tổng công ty và đơn vị trúng thầu, phải tuân theo các quy định của pháp luật về hoạt động khoáng sản, gồm những nội dung chính sau đây:
- Điều 13. Đối tượng đấu thầu là lô đất chứa đá quý nằm trong diện tích đã có đề án khai thác do Tổng công ty lập và được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền duyệt, cấp đất khai thác theo quy định của Luật đất đai. Diện tích các lô đất đấu thầu do Hội đồng đấu thầu xác định. Nghiêm cấm việc lợi dụng đấu thầu chỉ để buôn bán thầu nhằm thu lợi từ chênh lệch giá.
- Điều 14. Giá đặt thầu là mức giá tối thiểu được chào giá cho mỗi lô đất chứa đá quý, xác định theo một đơn giá thống nhất cho tất cả các lô trong mỗi khu mỏ và được công bố công khai.
- Điều 15. Hội đồng Đấu thầu do Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng công ty ký quyết định thành lập riêng cho từng vùng mỏ đá quý, có thành phần gồm: Đại diện Tổng công ty làm Chủ tịch Hội đồng, đại diện Uỷ ban nhân dân tỉnh có mỏ, đại diện Bộ Công nghiệp nặng và đại diện Bộ Tài chính.
- Điều 16. Đơn vị trúng đấu thầu chịu mọi chi phí khai thác, bảo vệ nội bộ khu vực khai thác của mình. Giá trị sản phẩm thu được trong quá trình khai thác, sau khi nộp các khoản thuế (trừ thuế tài nguyên đã nộp trước trong giá mua thầu) và các khoản phí khác, được phân chia theo tỷ lệ: Đơn vị khai thác: 85% (tám mươi lăm phần trăm ), tổng công ty: 15% ( mười lăm phần trăm).
- Điều 17. Tiền thu từ đấu thầu và thu theo hợp đồng khai thác phân chia sản phẩm được ghi thành khoản thu riêng trong các khoản thu của Tổng công ty.
- Điều 18. Sản phẩm đá quý do các đơn vị trúng thầu khai thác phải được nghiệm thu, phân loại, định giá. Loại giá trị từ 100 (một trăm) triệu đồng một viên trở lên, sau khi đánh giá được niêm phong, bảo quản ở tổng công ty để bán đấu giá. Loại giá trị dưới 100 (một trăm) triệu đồng một viên giao cho đơn vị khai thác hoặc Tổng công ty quản lý, tiêu thụ.
- Điều 19. Tổng công ty có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật khai thác nhằm tận thu tối đa khoáng sản, bảo vệ môi trường, an toàn lao động; kiểm tra, giám sát quá trình hoạt động khai thác của các đơn vị khai thác.
- Điều 20. Đơn vị khai thác có quyền chuyển quyền khai thác cho tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ của đơn vị đã ký kết với Tổng công ty. Trường hợp Nhà nước thu hồi hoặc trưng dụng mỏ vì lý do an ninh, quốc phòng, đơn vị khai thác được đền bù theo pháp luật hiện hành.
- Chương 4: GIA CÔNG CHẾ TÁC VÀ MUA BÁN ĐÁ QUÍ
Chương này được hướng dẫn bởi Thông tư 3-TM/CSTTTN-1997 có hiệu lực từ ngày 01/07/1997
- Điều 21. Mọi tổ chức kinh tế, cá nhân Việt Nam muốn gia công chế tác, buôn bán đá quý và làm hàng trang sức, mỹ nghệ bằng đá quý phải thành lập cơ sở sản xuất - kinh doanh, đăng ký hoạt động theo pháp luật.
- Điều 22. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho mọi tổ chức, cá nhân thực hiện việc mua, bán đá quý (nguyên liệu thô và đã gia công chế tác) tại các trung tâm đá quý và hàng trang sức của Tổng công ty. Ngoài ra, đá quý chỉ được mua, bán tại trụ sở doanh nghiệp và cửa hàng có giấy phép kinh doanh đá quý, chợ đá quý ở các vùng mỏ do chính quyền địa phương quản lý có sự tham gia của Tổng công ty.
- Điều 23. Việc xuất khẩu đá quý có giá trị từ 100 (một trăm) triệu đồng trở lên phải có hợp đồng mua bán và hoá đơn bán hàng lập theo mẫu của Bộ Thương mại và Bộ Tài chính, dưới 100 (một trăm) triệu đồng chỉ cần xuất trình hoá đơn bán hàng với Hải quan cửa khẩu. Thuế xuất khẩu do các đơn vi bán hàng nộp theo hợp đồng và hoá đơn bán hàng. Việc nhập khẩu nguyên liệu đá quý để gia công chế tác và tái xuất khẩu không giới hạn về số lượng, phải chấp hành theo quy dịnh của pháp luật về nhập khẩu hàng hoá.
Điều này được hướng dẫn bởi Công văn 2673/TCHQ-GSQL năm 1995 có hiệu lực từ ngày 30/10/1995
- Chương 5: XỬ LÝ VI PHẠM VÀ KHEN THƯỞNG
- Điều 24. Mọi hoạt động khảo sát, thăm dò đá quý không tuân theo quy định của Quy chế này và những quy dịnh khác có liên quan của pháp luật; việc vi phạm các quy định hiện hành của pháp luật về bảo mật tài liệu địa chất đá quý phải bị xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật.
- Điều 25. Việc khai thác, gia công chế tác, mua bán và xuất khẩu, nhập khẩu đá quý không tuân theo các quy định của Quy chế này và những quy định khác có liên quan của pháp luật, thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, sẽ bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
- Điều 26. Người nào lạm dụng chức vụ, quyền hạn làm trái quy định của Quy định của Quy chế này thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
- Chương 6: ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
- Điều 27. Quy chế này có hiệu lực từ ngày ban hành. Mọi quy định trước đây trái với Quy chế này đều bãi bỏ.
- Điều 28. Chậm nhất sau 60 ngày, kể từ khi ban hành, các Bộ, ngành có liên quan có trách nhiệm ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Quy chế này.
Nghị định số 65-CP ngày 13/10/1995 của Chính phủ Về quy chế quản lý các hoạt động trong lĩnh vực đá quý (Tình trạng hiệu lực không xác định)
- Số hiệu văn bản: 65-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Cơ quan ban hành: Chính phủ
- Ngày ban hành: 13-10-1995
- Ngày có hiệu lực: 13-10-1995
- Tình trạng hiệu lực: Không xác định
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Chế độ hiển thị lược đồ:
Vui lòng Đăng ký tài khoản hoặc đăng nhập để xem và tải văn bản gốc.
Lược đồ văn bản:
Nghị định số 65-CP ngày 13/10/1995 của Chính phủ Về quy chế quản lý các hoạt động trong lĩnh vực đá quý (Tình trạng hiệu lực không xác định)
Văn bản bị bãi bỏ, thay thế (1)
Văn bản bãi bỏ, thay thế (0)
Văn bản bị sửa đổi, bổ sung (0)
Văn bản sửa đổi, bổ sung (0)
Văn bản được hướng dẫn, quy định chi tiết (0)
Văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết (5)
- Thông tư số 131-TCHQ/GSQL ngày 24/06/1997 Hướng dẫn Nghị định 65/CP-1995 quy định thủ tục xuất nhập khẩu đá quý (Tình trạng hiệu lực không xác định) (24-06-1997)
- Thông tư số 3-TM/CSTTTN ngày 11/03/1997 Hướng dẫn quy định của Chính phủ về hoạt động mua bán, xuất nhập khẩu và gia công chế tác đá quý (Văn bản hết hiệu lực) (11-03-1997)
- Thông tư số 46/TC/TCDN ngày 09/08/1996 Hướng dẫn chế độ thu nộp và phân bổ các khoản thu từ đấu thầu khai thác đá quý và thu theo hợp đồng khai thác phân chia sản phẩm đá quý (Tình trạng hiệu lực không xác định) (09-08-1996)
- Quyết định số 789/QĐ-VP ngày 19/03/1996 Phê duyệt Quy chế đấu thấu khai thác phân chia sản phẩm đá quý ban hành bởi Bộ trưởng Bộ Công nghiệp (19-03-1996)
- Công văn về việc hướng dẫn tạm thời Nghị định số 65/CP của Chính phủ (30-10-1995)
Văn bản bị đính chính (0)
Văn bản đính chính (0)
Văn bản được hợp nhất (0)
Văn bản hợp nhất (0)
Tiếng anh