- NGHỊ ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 64-HĐBT NGÀY 10-6-1989 BAN HÀNH BẢN QUI ĐỊNH VỀ CHẾ ĐỘ VÀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU
- Điều 1. - Nay ban hành kèm theo Nghị định này bản Qui định về chế độ và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu.
- Điều 2. - Bãi bỏ những điều khoản trong các văn bản của Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành trước đây đối với lĩnh vực sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu và hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu trái với các điều khoản trong bản Qui định này.
- Điều 3. - Bản Qui định này được thi hành kể từ ngày ký. Bộ trưởng các Bộ, Chủ nhiệm các Uỷ ban Nhà nước, Thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng và Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
- QUI ĐỊNH VỀ CHẾ ĐỘ VÀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU
- I. NHỮNG QUI ĐỊNH CHUNG
- Điều 1. - Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu phải nhằm phục vụ nền kinh tế trong nước phát triển trên cơ sở khai thác và sử dụng có hiệu quả các tiềm năng và thế mạnh sẵn có về lao động, đất đai và các tài nguyên khác của nền kinh tế nước ta, giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân lao động, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật và qui trình công nghệ sản xuất, thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa đất nước, đáp ứng các yêu cầu cơ bản và cấp bách về sản xuất và đời sống; đồng thời góp phần hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng và điều hoà cung cầu để ổn định thị trường trong nước.
- Điều 2. - Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu phải dựa trên sự phát triển của nền sản xuất trong nước kết hợp với việc mở rộng hợp tác sản xuất và trao đổi hàng hoá với nước ngoài, tham gia vào sự phân công lao động quốc tế theo đúng đường lối đối ngoại của Nhà nước ta, trên nguyên tắc bình đẳng, các bên cùng có lợi và không xâm phạm chủ quyền của nhau để không ngừng nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội, đối ngoại của nước ta.
- Điều 3. - Nhà nước quản lý thống nhất mọi hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu bằng pháp luật và các chế độ, chính sách có liên quan, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu hoạt động đúng hướng, đạt hiệu quả cao.
- Điều 4. - Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu được tiến hành theo nguyên tắc hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong kinh doanh của tất cả các tổ chức kinh tế tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu như tự chủ về tài chính, tự hoàn vốn bằng tiền Việt Nam và bằng ngoại tệ, tự chịu trách nhiệm về kết quả và hiệu quả kinh doanh, hoàn thành tốt nghĩa vụ đóng góp với Nhà nước.
- Điều 5. - Phạm vi của bản Qui định này bao gồm các lĩnh vực và các đối tượng kinh doanh xuất nhập khẩu sau đây:
Điều này được hướng dẫn bởi Điểm 1 và 2 Thông tư 10-KTĐN/XNK-1989 có hiệu lực từ ngày 22/08/1989
- II. CHẾ ĐỘ QUẢN LÝ KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU
- Điều 6. - Nhà nước khuyến khích tất cả các thành phần kinh tế đẩy mạnh sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu bằng các chính sách đã được qui định tại Quyết định số 217-HĐBT ngày 14-11-1987. Nghị định số 50-HĐBT ngày 22-3-1988; Nghị định số 27-HĐBT ngày 9-3-1988; Nghị định số 28-HĐBT ngày 9-3-1988 của Hội đồng Bộ trưởng cụ thể là:
- Điều 7.- Nhà nước quy định và công bố các chính sách cụ thể trong kinh doanh xuất, nhập khẩu đối với từng thị trường, từng khu vực. Bộ Kinh tế đối ngoại hướng dẫn các cơ sở kinh doanh xuất, nhập khẩu thực hiện nghiêm chỉnh các chính sách về thị trường.
- Điều 8.- Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, nhập khẩu hàng năm phải được xây dựng phù hợp với qui hoạch và kế hoạch phát triển nền kinh tế quốc dân, căn cứ vào yêu cầu của thị trường thế giới và khả năng của ta.
- Điều 9.- Các chỉ tiêu giao nhận hàng xuất, nhập khẩu để thực hiện Nghị định thư, hợp đồng kinh tế đã ký ở cấp Chính phủ hoặc giữa các tổ chức kinh tế của hai nước được Chính phủ bảo trợ là những chỉ tiêu pháp lệnh.
Điều này được hướng dẫn bởi Điểm 3 Thông tư 10-KTĐN/XNK-1989 có hiệu lực từ ngày 22/08/1989
- Điều 10.- Đối với thiết bị toàn bộ và thiết bị lẻ chuyên dùng cho cơ sở sản xuất nào thì cơ sở đó được quyền tự đứng ra (hoặc có thể uỷ thác cho các tổ chức kinh doanh xuất, nhập khẩu) đàm phán, ký kết hợp đồng nhập khẩu.
- Điều 11. Từ nay, các tổ chức kinh tế của các ngành, các địa phương giao hàng xuất khẩu cho Trung ương để thực hiện các Nghị định thư đã ký kết với nước ngoài sẽ được thanh toán lại bằng tiền Việt Nam theo nguyên tắc bù đắp đủ chi phí hợp lý và có lãi thoả đáng đối với từng loại sản phẩm xuất khẩu.
- Điều 12.- Các tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu có thể vay vốn nước ngoài để đầu tư mở rộng sản xuất và chế biến hàng xuất khẩu. Các tổ chức này muốn được Ngân hàng hoặc một tổ chức kinh tế khác bảo lãnh thì phải có báo cáo kinh tế kỹ thuật, tính toán rõ hiệu quả kinh tế và điều kiện thế chấp cho việc vay ngoại tệ. Ngân hàng hoặc tổ chức kinh tế khác có quyền không bảo lãnh nếu xét thấy không có hiệu quả.
- Điều 13.- Các tổ chức kinh doanh xuất, nhập khẩu có quyền tự quyết định giá mua, giá bán hàng xuất, nhập khẩu trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh doanh theo chính sách và chế độ quản lý giá của Nhà nước.
- Điều 14.- Các tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu phải thực hiện đúng các cam kết về chất lượng và điều kiện về giao nhận hàng xuất, nhập khẩu theo các Hiệp định Chính phủ ta đã tham gia và các hợp đồng mà các tổ chức kinh doanh xuất, nhập khẩu đã ký kết với bên ngoài.
- Điều 15.- Về kiểm dịch thực vật, động vật (động vật sống), tổ chức được Nhà nước chỉ định có quyền thực hiện các biện pháp kiểm dịch và cấp giấy chứng nhận đối với hàng hoá nhập khẩu.
- Điều 16.- Trường hợp được nước ngoài thưởng về kết quả hoàn thành Nghị định thư một số mặt hàng thì trích 30% số ngoại tệ được thưởng nộp vào ngân sách; phần 70% tiền thưởng còn lại, các cơ sở liên quan được sử dụng vào việc mở rộng sản xuất phục vụ xuất khẩu. Nếu bị nước ngoài phạt mà nguyên nhân là do tổ chức kinh doanh xuất, nhập khẩu thì cơ sở phải tự trang trải các khoản nộp phạt.
- Điều 17.- Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo Nghị định thư không phải có giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu từng chuyến hàng.
- Điều 18.- Tất cả các loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu vận chuyển qua biên giới Việt Nam phải thực hiện các thủ tục hải quan và chịu sự kiểm tra của hải quan cửa khẩu.
- III. TỔ CHỨC KINH DOANH XUẤT, NHẬP KHẨU
- Điều 19.- Các tổ chức kinh doanh xuất, nhập khẩu chuyên nghiệp của Nhà nước, các cơ sở sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu thuộc thành phần kinh tế quốc doanh có đủ tư cách pháp nhân, thực hiện hạch toán kinh tế độc lập, có đội ngũ cán bộ am hiểu nghiệp vụ kinh doanh xuất, nhập khẩu được quyền trực tiếp xuất, nhập khẩu.
- Điều 20. - Tổ chức các Liên đoàn, Hiệp hội xuất, nhập khẩu để tập hợp những đơn vị kinh doanh chuyên ngành hoặc tổng hợp cả nước hoặc trên cùng một khu vực (bao gồm các đơn vị sản xuất, chế biến, kinh doanh xuất, nhập khẩu, các tổ chức dịch vụ và các tổ chức khoa học kỹ thuật có liên quan trực tiếp thuộc các thành phần kinh tế) nhằm giúp đỡ nhau trong sản xuất kinh doanh xuất, nhập khẩu, tham gia quản lý thị trường, quản lý giá cả hàng xuất, nhập khẩu. Các thành viên tham gia theo nguyên tắc tự nguyện, tự bầu Hội đồng Quản trị và tự quản theo nguyên tắc dân chủ, công khai, bình đẳng, cùng có lợi.
- Điều 21. - Mọi cơ sở sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu và các tổ chức kinh doanh xuất, nhập khẩu được quyền lựa chọn bất kỳ một tổ chức kinh doanh xuất, nhập khẩu chuyên nghiệp để uỷ thác việc xuất, nhập khẩu hàng hoá theo đúng yêu cầu của mình, không bắt buộc phải uỷ thác qua tổ chức xuất, nhập khẩu chuyên doanh ngành hàng hoặc tổ chức xuất, nhập khẩu của địa phương nếu xét thấy không bảo đảm được hiệu quả kinh tế, cửa quyền hoặc gây phiền hà. Chi phí uỷ thác không được thu quá 1% giá trị của hàng xuất theo giá giao lên tầu (FOB) và hàng nhập theo giá tiền hàng cộng (+) phí bảo hiểm (+) cước phí (CIF).
- Điều 22: - Các tổ chức sản xuất và kinh doanh được phép xuất, nhập khẩu trực tiếp có nghĩa vụ thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh hoặc đơn đặt hàng của Nhà nước về xuất khẩu, nhập khẩu, hoàn thành tốt các cam kết với nước ngoài; thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước, chấp hành nghiêm túc các chính sách, chế độ và pháp luật Nhà nước về kinh doanh xuất, nhập khẩu.
- Điều 23. - Các tổ chức sản xuất và kinh doanh được phép xuất, nhập khẩu trực tiếp phải có đăng ký, nêu rõ mục đích, yêu cầu, nội dung hoạt động kinh doanh, vốn và cổ phần, doanh số, điều lệ tổ chức để Bộ Kinh tế đối ngoại xét và cấp giấy phép kinh doanh xuất, nhập khẩu.
- IV. TỔ CHỨC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT, NHẬP KHẨU
- Điều 24.- Mọi hoạt động kinh doanh xuất, nhập khẩu đều phải chịu sự quản lý thống nhất của Nhà nước theo đường lối chính sách của Đảng về hoạt động kinh tế đối ngoại, quy hoạch kế hoạch và pháp luật của Nhà nước, vừa bảo đảm phát huy sự quản lý tập trung thống nhất của Hội đồng Bộ trưởng, vừa bảo đảm phát huy tính năng động của các ngành, các địa phương và quyền tự chủ của các tổ chức kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, bảo vệ lợi ích của đất nước, phù hợp với pháp luật của nước ta và thông lệ quốc tế.
- Điều 25. - Về xuất khẩu và nhập khẩu, Bộ Kinh tế đối ngoại có nhiệm quản lý Nhà nước như sau:
- Điều 26. - Hội đồng Bộ trưởng thông qua Bộ Kinh tế đối ngoại để thực hiện quản lý Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh xuất, nhập khẩu trên phạm vi cả nước.
- V. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
- Điều 27. - Quy định này được thi hành từ ngày ký, bãi bỏ các quy định trước đây trái với quy định này. Bộ Kinh tế đối ngoại, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài chính, ngân hàng Nhà nước và các cơ quan Nhà nước khác, tuỳ theo chức năng và nhiệm vụ, có trách nhiệm giải thích và hướng dẫn cụ thể các điều khoản trong quy định này.
- Điều 28. - Bộ trưởng Bộ Kinh tế đối ngoại, Thủ trưởng các Bộ, Uỷ ban Nhà nước, cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quy định này.
Nghị định số 64-HĐBT ngày 10/06/1989 của Hội đồng Bộ trưởng Quy định chế độ và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu (Văn bản hết hiệu lực)
- Số hiệu văn bản: 64-HĐBT
- Loại văn bản: Nghị định
- Cơ quan ban hành: Hội đồng Bộ trưởng
- Ngày ban hành: 10-06-1989
- Ngày có hiệu lực: 10-06-1989
- Ngày bị bãi bỏ, thay thế: 07-04-1992
- Tình trạng hiệu lực: Hết hiệu lực
- Thời gian duy trì hiệu lực: 1032 ngày (2 năm 10 tháng 2 ngày)
- Ngày hết hiệu lực: 07-04-1992
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Tiếng anh