- NGHỊ ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỜNG SỐ 15-HĐBT NGÀY 21/2/1989 VỀ VIỆC BAN HÀNH QUY CHẾ ĐOÀN LUẬT SƯ
- Điều 1.- Ban hành kèm theo Nghị định này bản Quy chế Đoàn Luật sư.
- Điều 2. - Bộ Tư pháp có nhiệm vụ hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện quy chế này.
- Điều 3.- Bộ trưởng Bộ Tư pháp, các Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước, Thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
- Điều 4.- Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Những quy định trước đây trái với Nghị định này đều bị bãi bỏ.
- QUY CHẾ ĐOÀN LUẬT SƯ
- Chương 1: ĐOÀN LUẬT SƯ
- Điều 1.- Đoàn Luật sư được thành lập để giúp công dân và các tổ chức về mặt pháp lý theo quy định của Hiến pháp, Pháp lệnh Tổ chức Luật sư và các quy định khác của pháp luật nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Điều 2.- Đoàn Luật sư là tổ chức nghề nghiệp của các Luật sư. Kinh phí của Đoàn Luật sư hoạt động theo nguyên tắc tự trang trải bằng nguồn thu khi Luật sư giúp đỡ pháp lý cho các bị can, bị cáo và các đương sự. Đoàn Luật sư có tư cách pháp nhân, có tài khoản riêng ở Ngân hàng, có con dấu riêng. Công việc nội bộ của Đoàn Luật sư do các cơ quan của Đoàn quyết định.
- Điều 3.- Tại mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính tương đương thành lập một Đoàn Luật sư. ở những tỉnh, thành phố địa bàn rộng, số lượng Luật sư đông thì có thể đặt thêm các chi nhánh giao dịch; các chi nhánh chịu sự lãnh đạo thống nhất của Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư.
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Mục II Thông tư 313/TT-LS-1989 có hiệu lực từ ngày 30/04/1989
- Điều 4.- Đoàn Luật sư được Nhà nước khuyến khích, giúp đỡ và chịu sự hướng dẫn, kiểm tra và giám sát của Nhà nước theo quy định của Pháp lệnh Tổ chức Luật sư và những quy định chi tiết trong Quy chế này.
- Chương 2: THÀNH VIÊN CỦA ĐOÀN LUẬT SƯ
- Điều 5.- Thành viên của Đoàn Luật sư là các Luật sư và Luật sư tập sự.
- Điều 6.- Người gia nhập Đoàn Luật sư phải có đủ điều kiện sau đây:
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Mục II Thông tư 313/TT-LS-1989 có hiệu lực từ ngày 30/04/1989
- Điều 7.- Những người đang công tác tại cơ quan Toà án, Kiểm sát, Công an, Tư pháp, Thanh tra Nhà nước, Trọng tài kinh tế, Hải quan và các cơ quan Nội chính của Đảng không được gia nhập Đoàn Luật sư, trừ những người đang làm công tác nghiên cứu, giảng dạy về pháp lý tại các Viện nghiên cứu và các trường thuộc các cơ quan đó.
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Mục II Thông tư 313/TT-LS-1989 có hiệu lực từ ngày 30/04/1989
- Điều 8.- Người muốn gia nhập Đoàn Luật sư phải tự nguyện làm đơn xin gia nhập Đoàn, kèm theo:
- Điều 9.- Người có đơn xin gia nhập Đoàn Luật sư mà không được chấp nhận có quyền khiếu nại lên Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính tương đương. Trong thời hạn một tháng kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố phải trả lời cho người khiếu nại biết kết quả.
- Điều 10. Thời gian tập sự đối với những người đã tốt nghiệp đại học pháp lý nhưng chưa qua công tác pháp lý là 2 năm.
- Điều 11.- Luật sư tập sự có quyền và nghĩa vụ như Luật sư, trừ quyền bầu và được bầu vào Ban Chủ nhiệm và Ban Kiểm tra của Đoàn.
- Điều 12.- Sau khi hết hạn tập sự, Luật sư tập sự phải qua một kỳ kiểm tra về kiến thức pháp lý và nghiệp vụ Luật sư; việc kiểm tra do Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tiến hành theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp.
- Điều 13.- Nếu đạt yêu cầu trong kỳ kiểm tra nói ở điều 12, Luật sư tập sự được công nhận là Luật sư và được Ban Chủ nhiệm cấp thẻ Luật sư.
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 4 Mục II Thông tư 313/TT-LS-1989 có hiệu lực từ ngày 30/04/1989
- Điều 14.- Quyền hạn của Luật sư:
- Điều 15.- Nghĩa vụ của Luật sư:
- Điều 16.- Khi tham gia tố tụng, Luật sư có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng. Các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan có trách nhiệm bảo đảm cho Luật sư thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó.
- Chương 3: CÁC CƠ QUAN CỦA ĐOÀN LUẬT SƯ VÀ VIỆC TỔ CHỨC ĐIỀU HÀNH HOẠT ĐỘNG TRONG ĐOÀN
- Điều 17.- Các cơ quan của Đoàn Luật sư gồm có:
- Điều 19.- Hội nghị toàn thể Đoàn Luật sư có nhiệm vụ và quyền hạn:
- Điều 20.- Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư là cơ quan chấp hành của Hội nghị toàn thể Đoàn Luật sư do Hội nghị toàn thể Đoàn Luật sư bầu ra, có nhiệm kỳ 3 năm.
- Điều 21.- Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư có nhiệm vụ và quyền hạn:
- Điều 22.- Trách nhiệm và quyền hạn của Chủ nhiệm Đoàn Luật sư:
- Điều 23.- Các Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư giúp Chủ nhiệm phụ trách từng phần công việc theo sự phân công của Ban Chủ nhiệm. Khi Chủ nhiệm vắng mặt, Ban Chủ nhiệm cử một Phó Chủ nhiệm làm quyền Chủ nhiệm.
- Điều 24. - Ban Kiểm tra Đoàn Luật sư do Hội nghị toàn thể Đoàn Luật sư bầu ra, có nhiệm kỳ 3 năm. Thành viên của Ban Kiểm tra không được đồng thời là thành viên của Ban Chủ nhiệm.
- Điều 25.- Ban Kiểm tra Đoàn Luật sư có nhiệm vụ và quyền hạn:
- Điều 26.- Đoàn Luật sư có bộ máy giúp việc gồm văn thư, kế toán, thủ quỹ và nhân viên giúp việc khác làm việc theo hợp đồng ký kết với Đoàn.
- Điều 27.- Nơi giao dịch để tiến hành hoạt động giúp đỡ pháp lý của Đoàn Luật sư, tiếp công dân và đại diện các tổ chức là trụ sở của Đoàn và các chi nhánh của Đoàn.
- Điều 28.- Bị can, bị cáo, đương sự hoặc thân nhân của họ có thể nhờ đích danh Luật sư hoặc nhờ Đoàn Luật sư bào chữa hoặc làm đại diện.
- Điều 29.- Luật sư nhận làm tư vấn pháp luật cho các tổ chức kinh tế bằng hình thức ký kết hợp đồng tư vấn pháp luật với tổ chức kinh tế đó. Hình thức và nội dung hợp đồng tư vấn pháp luật do các bên thoả thuận trong phạm vi pháp luật cho phép.
- Điều 30.- Các dịch vụ pháp lý khác của Luật sư cho công dân và các tổ chức bao gồm hướng dẫn giải thích về những vấn đề có liên quan đến pháp luật, hướng dẫn làm các đơn từ, hợp đồng; hướng dẫn viết chúc thư, giấy tờ tặng, cho và các văn bản có tính chất pháp lý khác... việc hướng dẫn có thể bằng miệng hoặc bằng văn bản.
- Điều 31.- Trong trường hợp có yêu cầu giúp đỡ pháp lý ngoài phạm vi địa phương thì Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư làm các thủ tục cần thiết giới thiệu Luật sư theo yêu cầu của công dân.
- Chương 4: THÙ LAO CỦA LUẬT SƯ, QUỸ CỦA ĐOÀN LUẬT SƯ.
- Điều 32.- Việc giúp đỡ pháp lý của Luật sư được công dân và các tổ chức trả thù lao theo từng vụ việc. Mức thù lao đối với từng loại việc được tính theo những căn cứ sau đây:
- Điều 33.- Những người sau đây được miễn trả thù lao khi nhờ Luật sư giúp đỡ pháp lý:
- Điều 34.- Luật sư nhận thù lao thông qua Đoàn Luật sư theo tỷ lệ do Hội nghị toàn thể Đoàn Luật sư quyết định trong phạm vi quy định của Pháp lệnh Tổ chức Luật sư.
- Điều 35.- Khi giúp đỡ pháp lý cho các tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài, Đoàn Luật sư được nhận và sử dụng thù lao bằng ngoại tệ. Việc nhận và sử dụng ngoại tệ của Đoàn Luật sư theo quy định chung của Nhà nước.
- Điều 36.- Quỹ của Đoàn Luật sư được lập từ các nguồn:
- Điều 37.- Quỹ của Đoàn Luật sư được sử dụng vào các việc sau đây:
- Điều 38.- Trong những trường hợp miễn giảm thù lao, Luật sư được nhận từ quỹ của Đoàn khoản thù lao như đối với những vụ việc tương đương.
- Điều 39.- Luật sư tập sự được bảo đảm mức thu nhập ít nhất phải tương đương mức lương tập sự của những người tốt nghiệp đại học trong biên chế Nhà nước. Trường hợp thu nhập thực tế của Luật sư thấp hơn thu nhập tối thiểu nói trên thì sẽ được bù khoản chênh lệch từ quỹ của Đoàn Luật sư.
- Điều 40.- Thành viên của Ban Chủ nhiệm và Ban Kiểm tra Đoàn Luật sư được hưởng phụ cấp trách nhiệm do Đoàn Luật sư trả từ quỹ của Đoàn. Mức phụ cấp của những người này do Hội nghị toàn thể Đoàn Luật sư quyết định căn cứ vào thu nhập của Đoàn.
- Điều 41.- Đoàn Luật sư có quỹ bảo hiểm xã hội riêng, có chế độ đóng góp, sử dụng bảo hiểm xã hội riêng do Hội nghị toàn thể của Đoàn quyết định căn cứ vào những quy định chung của Nhà nước về bảo hiểm xã hội. Đoàn Luật sư được miễn các thứ thuế mà hoạt động đó trực tiếp phục vụ cho công tác nghề nghiệp của Đoàn.
- Chương 5: KHEN THƯỞNG VÀ KỶ LUẬT
- Điều 42.- Luật sư có thành tích xuất sắc trong công tác được Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính tương đương, Bộ Tư pháp hoặc Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khen thưởng theo đề nghị của Hội nghị toàn thể Đoàn Luật sư; được đề nghị Nhà nước khen thưởng những hình thức cao hơn.
- Điều 43.- Các hình thức kỷ luật đối với Luật sư:
- Điều 44.- Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư có quyền quyết định hình thức kỷ luật khiển trách, cảnh cáo đối với Luật sư.
- Chương 6: QUAN HỆ GIỮA ĐOÀN LUẬT SƯ VỚI BỘ TƯ PHÁP VÀ CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC, VỚI MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM VÀ CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI KHÁC
- Điều 45.- Bộ Tư pháp hướng dẫn thủ tục thành lập Đoàn Luật sư theo Pháp lệnh Tổ chức Luật sư và Quy chế này; kiểm tra việc thực hiện Quy chế của các Đoàn Luật sư và các Luật sư; hướng dẫn bồi dưỡng chính trị, nghiệp vụ cho các Luật sư; tổng kết phổ biến kinh nghiệm và thực hiện các biện pháp khác nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của Luật sư.
- Điều 46. - Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính tương đương phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc thường xuyên giám sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động của Đoàn Luật sư ở địa phương mình, có những kiến nghị cần thiết và kịp thời với Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư. Ban Chủ nhiệm có trách nhiệm xem xét và trả lời những kiến nghị đó.
- Điều 47. - Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính tương đương có nhiệm vụ giúp đỡ cơ sở vật chất cho Đoàn Luật sư khi mới thành lập và tạo điều kiện thuận lợi khác cho Đoàn Luật sư và các Luật sư hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Nghị định số 15-HĐBT ngày 21/02/1989 của Hội đồng Bộ trưởng Quy chế Đoàn Luật sư (Tình trạng hiệu lực không xác định)
- Số hiệu văn bản: 15-HĐBT
- Loại văn bản: Nghị định
- Cơ quan ban hành: Hội đồng Bộ trưởng
- Ngày ban hành: 21-02-1989
- Ngày có hiệu lực: 21-02-1989
- Tình trạng hiệu lực: Không xác định
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Tiếng anh