- NGHỊ ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 201-HĐBT NGÀY 28-12-1988 BAN HÀNH ĐIỀU LỆ VỀ MUA BÁN QUYỀN SỬ DỤNG SÁNG CHẾ, GIẢI PHÁP HỮU ÍCH, KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP, NHÃN HIỆU HÀNG HOÁ VÀ BÍ QUYẾT KỸ THUẬT (GỌI TẮT LÀ ĐIỀU LỆ VỀ MUA BÁN LIXĂNG)
- Điều 1. - Nay ban hành kèm theo Nghị định này bản Điều lệ về mua bán quyền sử dụng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá và bí quyết kỹ thuật (gọi tắt là Điều lệ về mua bán lixăng).
- Điều 2. - Bản điều lệ này có hiệu lực từ ngày ký. Những quy định trước đây trái với những quy định trong Điều lệ này đều bãi bỏ.
- Điều 3. - Bộ trưởng, các Bộ, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước, Thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
- ĐIỀU LỆ VỀ MUA BÁN QUYỀN SỬ DỤNG SÁNG CHẾ, GIẢI PHÁP HỮU ÍCH, KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP, NHÃN HIỆU HÀNG HOÁ VÀ BÍ QUYẾT KỸ THUẬT (GỌI TẮT LÀ ĐIỀU LỆ VỀ MUA BÁN LIXĂNG)
- Chương 1: QUY ĐỊNH CHUNG
- Điều 1. Điều lệ này quy định việc mua bán quyền sử dụng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá và bí quyết kỹ thuật (dưới đây gọi tắt là mua bán lixăng) áp dụng cho mọi cá nhân và pháp nhân của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 2 Thông tư 163/TT-SHCN năm 1994 có hiệu lực từ ngày 15/04/1994
- Điều 2. Đối tượng lixăng là quyền sử dụng các sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá đang còn hiệu lực bảo hộ pháp lý.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 3 Thông tư 163/TT-SHCN năm 1994 có hiệu lực từ ngày 15/04/1994
- Điều 3. Các cá nhân và pháp nhân (kể cả Bên nước ngoài) chỉ được phép bán các đối tượng lixăng (nêu ở Điều 2 của Điều lệ này) thuộc quyền sở hữu của mình hoặc các đối tượng lixăng trong hợp đồng lixăng độc quyền mà các cá nhân hoặc pháp nhân đó được phép bán lixăng phụ thuộc hoặc theo điểm 5, Điều 6 của Điều lệ này.
- Điều 4. Tất cả các pháp nhân thuộc mọi thành phần kinh tế đều có quyền mua lixăng (kể cả mua lixăng của nước ngoài) để phục vụ sản xuất kinh doanh của mình nếu thấy việc mua lixăng đó đưa lại hiệu quả cao hơn.
- Chương 2: HỢP ĐỒNG LIXĂNG
- Điều 5. Việc mua bán lixăng được tiến hành trên nguyên tắc hợp đồng.
- Điều 6. - Trong hợp đồng lixăng không được phép có những điều khoản nhằm:
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 7 Thông tư 163/TT-SHCN năm 1994 có hiệu lực từ ngày 15/04/1994
- Điều 7. Thời hạn hiệu lực của hợp đồng lixăng không được phép quá 7 năm kể từ ngày:
- Chương 3: KÝ KẾT PHÊ DUYỆT VÀ ĐĂNG KÝ HỢP ĐỒNG LIXĂNG.
- Điều 8. - Các bên ký kết hợp đồng lixăng phải có đầy đủ tư cách về mặt pháp lý và khả năng thực hiện những cam kết được thoả thuận trong hợp đồng.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 9 Thông tư 163/TT-SHCN năm 1994 có hiệu lực từ ngày 15/04/1994
- Điều 9. - Các hợp đồng lixăng được ký kết giữa các cá nhân và pháp nhân trong nước phải theo đúng thủ tục về ký kết hợp đồng kinh tế do Nhà nước quy định và phải được đăng ký và nộp lưu hợp đồng tại Cục sáng chế thuộc Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước theo đúng Điều 14 của Điều lệ.
- Điều 10. - Khi ký kết hợp đồng lixăng với Bên nước ngoài, các cá nhân và pháp nhân phải thực hiện những quy định sau:
- Điều 11. - Trong quá trình đàm phán ký kết hợp đồng mua bán lixăng với nước ngoài, bên nhận uỷ thác phải phối hợp chặt chẽ với bên uỷ thác. Trường hợp cần thiết, đại diện bên uỷ thác phải được cùng tham gia đàm phán với bên nước ngoài.
- Điều 12. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày ký hợp đồng lixăng với Bên nước ngoài, các cá nhân pháp nhân mua, bán lixăng có trách nhiệm lập và nộp đầy đủ hồ sơ xin phê duyệt hợp đồng lixăng cho Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước. Trong trường hợp pháp nhân là cơ quan, xí nghiệp của Nhà nước hoặc xí nghiệp công tư hợp doanh phải gửi một bản sao hợp đồng cho cơ quan chủ quản.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 10 Thông tư 163/TT-SHCN năm 1994 có hiệu lực từ ngày 15/04/1994
- Điều 13. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được dơn xin phê duyệt hợp đồng lixăng, Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước có trách nhiệm trả lời đơn xin phê duyệt và có quyền kéo dài thời hạn trên thêm 60 ngày, nhưng phải thông báo chính thức bằng văn bản và nêu rõ lý do kéo dài thời hạn trả lời cho cá nhân hoặc pháp nhân xin phê duyệt hợp đồng lixăng.
- Điều 14. Sau khi hợp đồng lixăng được phê duyệt (trường hợp hợp đồng ký kết với bên nước ngoài) hoặc sau khi ký kết (trường hợp hợp đồng được ký kết giữa các bên trong nước) hợp đồng lixăng phải được đăng ký và nộp lưu tại Cục Sáng chế thuộc Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước để ghi nhận về mặt pháp lý việc chuyển giao đối tượng đã được ký kết.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 11 Thông tư 163/TT-SHCN năm 1994 có hiệu lực từ ngày 15/04/1994
- Điều 15. Quyết định phê duyệt và giấy chứng nhận đăng ký hợp đồng lixăng là căn cứ để cấp giấy phép xuất khẩu, sử dụng ngoại tệ, vay vốn Ngân hàng và để bảo đảm các quyền sở hữu công nghiệp.
- Điều 16. - Sau khi hợp đồng lixăng có hiệu lực, các cá nhân và pháp nhân trong nước có tài khoản ở Ngân hàng, có trách nhiệm gửi bản sao hợp đồng cho Trọng tài kinh tế có thẩm quyền để theo dõi.
- Chương 4: THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
- Điều 17. Sau khi hợp đồng lixăng có hiệu lực pháp lý, các bên tham gia ký kết hợp đồng có trách nhiệm thực hiện các cam kết theo đúng tiến độ về nội dung và chất lượng công việc đã được thoả thuận trong hợp đồng.
- Điều 18. - Trong suốt thời gian hiệu lực của hợp đồng, các bên ký kết hợp đồng lixăng có trách nhiệm thông báo cho nhau mọi sáng kiến cải tiến kỹ thuật, giải pháp hữu ích hay sáng chế nảy sinh trong quá trình áp dụng đối tượng lixăng. Điều kiện để được phép sử dụng các kỹ thuật mới đó do các bên ký kết hợp đồng thoả thuận trong hợp đồng lixăng bổ sung.
- Điều 19. - Các bên ký kết hợp đồng lixăng có trách nhiêm giữ bí mật tất cả các thông tin và kiến thức kỹ thuật thuộc bí quyết kỹ thuật đã được chuyển giao. Trách nhiệm này phải được thực hiện trong suốt thời gian sau khi hợp đồng hết hiệu lực cho tới lúc những thông tin và kiến thức kỹ thuật được chuyển giao trở nên công khai.
- Điều 20. - Các bên ký kết hợp đồng có trách nhiệm bảo vệ các quyền được chuyển giao thông qua hợp đồng.
- Điều 21. Mọi tranh chấp nảy sinh giữa các bên ký kết hợp đồng trong quá trình thực hiện hợp đồng lixăng cần phải được giải quyết bằng con đường thương lượng giữa các bên.
- Điều 22. Nếu thấy quyết định của các cơ quan có thẩm quyền xét xử nêu tại điểm 2a của Điều 21 là không thoả đáng, các bên đương sự có quyền kháng cáo lên cơ quan có thẩm quyền xét xử cấp trên để giải quyết. Trong khi chờ đợi giải quyết các bên vẫn phải chấp hành quyết định của cơ quan đã xét xử.
- Chương 5: TÀI CHÍNH VÀ CHẾ ĐỘ KHUYẾN KHÍCH HOẠT ĐỘNG MUA BÁN LIXĂNG
- Điều 23. Thu nhập do việc bán lixăng là nguồn thu phải trích nộp ngân sách Nhà nước (nếu pháp nhân là cơ quan, xí nghiệp Nhà nước hoặc xí nghiệp công ty hợp doanh) hoặc phải nộp thuế (nếu bên bán lixăng là cá nhân hoặc pháp nhân thuộc khu vực kinh tế tập thể, tư nhân hay Bên nước ngoài bán lixăng tại Việt Nam). Khoản trích nộp ngân sách Nhà nước hoặc thuế quy định như sau:
- Điều 24. - Để khuyến khích đẩy mạnh lao động sáng tạo các pháp nhân là cơ quan, xí nghiệp của Nhà nước hoặc xí nghiệp công tư hợp doanh được phép trích 25% tiền thu được do việc bán lixăng (sau khi đã trừ đi các chi phí phục vụ cho việc đàm phán, ký kết, thực hiện hợp đồng và trừ đi khoản trích nộp ngân sách Nhà nước nêu tại Điều 23 của Điều lệ) để trả thù lao cho tác giả (và đồng tác giả nếu có) cho những người đã trực tiếp giúp đỡ tác giả hoàn thiện giải pháp kỹ thuật đã được bán và trả cho những người trực tiếp giúp đơn vị chuẩn bị và thực hiện hợp đồng lixăng. Phần còn lại đơn vị trích lập quỹ theo hướng dẫn chung của Nhà nước.
- Điều 25. Các cá nhân và pháp nhân có lixăng bán ra nước ngoài được quyền sử dụng ngoại tệ theo chế độ hiện hành của Nhà nước.
- Chương 6: ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
- Điều 26. - Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước có trách nhiệm ban hành hoặc phối hợp với các cơ quan có liên quan để ban hành các thông tư giải thích và hướng dẫn bản Điều lệ này.
- Điều 27. - Bộ trưởng các Bộ, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước, Thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương có trách nhiệm ban hành các quy định cụ thể để áp dụng trong ngành mình, địa phương mình đồng thời có trách nhiệm đôn đốc, theo dõi kiểm tra tình hình thực hiện Điều lệ này.
Nghị định số 201-HĐBT ngày 28/12/1988 của Hội đồng Bộ trưởng Về Điều lệ mua bán quyền sử dụng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá và bí quyết kỹ thuật (gọi tắt là Điều lệ về mua bán li xăng) (Văn bản hết hiệu lực)
- Số hiệu văn bản: 201-HĐBT
- Loại văn bản: Nghị định
- Cơ quan ban hành: Hội đồng Bộ trưởng
- Ngày ban hành: 28-12-1988
- Ngày có hiệu lực: 28-12-1988
- Ngày bị bãi bỏ, thay thế: 24-10-1996
- Tình trạng hiệu lực: Hết hiệu lực
- Thời gian duy trì hiệu lực: 2857 ngày (7 năm 10 tháng 2 ngày)
- Ngày hết hiệu lực: 24-10-1996
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Chế độ hiển thị lược đồ:
Vui lòng Đăng ký tài khoản hoặc đăng nhập để xem và tải văn bản gốc.
Lược đồ văn bản:
Nghị định số 201-HĐBT ngày 28/12/1988 của Hội đồng Bộ trưởng Về Điều lệ mua bán quyền sử dụng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá và bí quyết kỹ thuật (gọi tắt là Điều lệ về mua bán li xăng) (Văn bản hết hiệu lực)
Văn bản bị bãi bỏ, thay thế (0)
Văn bản bãi bỏ, thay thế (1)
Văn bản bị sửa đổi, bổ sung (0)
Văn bản sửa đổi, bổ sung (0)
Văn bản được hướng dẫn, quy định chi tiết (0)
Văn bản bị đính chính (0)
Văn bản đính chính (0)
Văn bản được hợp nhất (0)
Văn bản hợp nhất (0)
Tiếng anh