- Điều 1.- Nay ban hành kèm theo Nghị định này bản Điều lệ xí nghiệp công nghiệp quốc doanh.
- Điều 2.- Bãi bỏ Nghị định của Hội đồng Chính phủ số 93-CP ngày 8-4-1977 về việc ban hành Điều lệ xí nghiệp công nghiệp quốc doanh.
- Điều 3.- Các Bộ, Uỷ ban Nhà nước, các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng và Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương có trách nhiệm:
- Điều 4.- Điều lệ này được thi hành kể từ ngày ký; những điều quy định trước đây trái với Điều lệ này đều bãi bỏ.
- Điều 5.- Bộ trưởng các Bộ, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước, thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng và Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
- ĐIỀU LỆ XÍ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP QUỐC DOANH
- Chương 1: VỊ TRÍ, NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA XÍ NGHIỆP
- Điều 1.- Xí nghiệp công nghiệp quốc doanh (xí nghiệp độc lập, xí nghiệp liên hợp, sau đây gọi chung là xí nghiệp) là đơn vị kinh tế cơ sở, khâu cơ bản của nền kinh tế quốc dân xã hội chủ nghĩa; là đơn vị sản xuất hàng hoá có kế hoạch nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội; có tư cách pháp nhân và hạch toán kinh tế độc lập.
- Điều 2.- Xí nghiệp hoạt động theo những nguyên tắc chủ yếu sau đây:
- Điều 3.- Xí nghiệp có những nhiệm vụ cơ bản:
- Chương 2: TÀI SẢN CỦA XÍ NGHIỆP
- Điều 4.- Tài sản của xí nghiệp thuộc sở hữu toàn dân, được Nhà nước giao cho tập thể lao động, đứng đầu là Giám đốc xí nghiệp, trực tiếp quản lý, sử dụng để phát triển sản xuất, kinh doanh. Xí nghiệp có trách nhiệm duy trì và không ngừng bổ sung, đổi mới tài sản theo yêu cầu sản xuất bằng vốn tự có, vốn tín dụng và vốn huy động từ các nguồn khác
- Điều 5.- Xí nghiệp có quyền nhượng bán, thuê hoặc cho thuê những tài sản không dùng đến hoặc chưa dùng hết công suất. Việc bán tài sản cố định thuộc vốn ngân sách cấp, xí nghiệp phải báo cáo cấp trên. Nếu quá thời gian quy định kể từ khi nhận được báo cáo, cấp trên không có ý kiến, thì xí nghiệp được bán tài sản đó. Nghiêm cấm việc mua bán trái phép tài sản của xí nghiệp.
- Chương 3: TỔ CHỨC SẢN XUẤT VÀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ XÍ NGHIỆP
- I. TỔ CHỨC SẢN XUẤT
- Điều 6.- Căn cứ vào phương hướng, mục tiêu kế hoạch Nhà nước, quy hoạch, kế hoạch của ngành, của địa phương, nhiệm vụ thiết kế và nhu cầu của thị trường, xí nghiệp chủ động xác định phương án sản phẩm, mặt hàng, lựa chọn thiết bị, công nghệ và cơ cấu tổ chức sản xuất trên cơ sở ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, phù hợp với yêu cầu chuyên môn hoá, hợp tác hóa sản xuất và kinh doanh tổng hợp.
- Điều 7.- Xí nghiệp có quyền chủ động tổ chức (thành lập, giải thể) các bộ phận sản xuất chính, sản xuất phụ, phù trợ, dịch vụ, các bộ phận quản lý, tổ chức đời sống - xã hội để thực hiện phương án sản xuất, kinh doanh có hiệu quả nhất.
- II. QUYỀN LÀM CHỦ CỦA TẬP THỂ LAO ĐỘNG Ở XÍ NGHIỆP
- Điều 8.- Quyền làm chủ của tập thể lao động được thực hiện chủ yếu thông qua hoạt động của Đại hội công nhân, viên chức, Hội đồng xí nghiệp và Ban thanh tra công nhân.
- Điều 9.- Đại hội công nhân, viên chức xí nghiệp (hoặc Đại hội đại biểu công nhân, viên chức, sau đây gọi chung là Đại hội công nhân, viên chức) có quyền cao nhất, quyết định những vấn đề phương hướng phát triển, kế hoạch sản xuất, kinh doanh của xí nghiệp trên nguyên tắc bảo đảm hoàn thành nghĩa vụ đối với Nhà nước và hợp đồng đã ký kết, chủ trương và biện pháp bảo vệ tài sản, nâng cao năng lực và hiệu quả sản xuất, kinh doanh; nội quy xí nghiệp; những nguyên tắc phân phối thu nhập của tập thể lao động theo chính sách của Nhà nước; cải thiện điều kiện lao động, đời sống và phúc lợi xã hội của công nhân, viên chức; bầu Hội đồng xí nghiệp, Ban thanh tra công nhân và quyết định các vấn đề quan trọng khác thuộc quyền làm chủ của tập thể lao động ở xí nghiệp.
- Điều 10.- Hội đồng xí nghiệp là cơ quan thường trực của đại hội công nhân viên chức gồm những cán bộ và công nhân có tín nhiệm, có năng lực lãnh đạo và quản lý xí nghiệp. Giám đốc xí nghiệp là thành viên đương nhiên của Hội đồng xí nghiệp. Hội đồng xí nghiệp có nhiệm vụ giám sát việc thực hiện Nghị quyết đại hội công nhân, viên chức kiến nghị về chủ trương, biện pháp cần thiết để thực hiện nghị quyết của Đại hội công nhân, viên chức; phối hợp với công đoàn chỉ đạo hoạt động của Ban thanh tra công nhân; tham gia ý kiến với Giám đốc trong việc đào tạo, bố trí, sử dụng, khen thưởng, kỷ luật cán bộ quản lý trong xí nghiệp; giải quyết những vấn đề phát sinh thuộc thẩm quyền của Đại hội công nhân, viên chức trong nhiệm kỳ; quyết định triệu tập đại hội công nhân, viên chức khi cần thiết.
- Điều 11.- Ban thanh tra công nhân thực hiện quyền kiểm tra của tập thể lao động về các mặt sản xuất, kinh doanh, phân phối, về thực hiện nội quy xí nghiệp, về chấp hành các chính sách, chế độ, pháp luật của Nhà nước, về đấu tranh chống tiêu cực và các tệ nạn xã hội khác trong xí nghiệp. Ban thanh tra công nhân hoạt động theo yêu cầu của Hội đồng xí nghiệp, của Ban Chấp hành Công đoàn hoặc theo quyết nghị của đa số thành viên trong Ban.
- III. GIÁM ĐỐC XÍ NGHIỆP
- Điều 12.- Giám đốc xí nghiệp vừa đại diện cho Nhà nước, vừa đại diện cho công nhân, viên chức, quản lý xí nghiệp theo chế độ một thủ trưởng, có quyền quyết định việc điều hành hoạt động của xí nghiệp theo đúng kế hoạch, chính sách, pháp luật của Nhà nước và Nghị quyết của Đại hội công nhân, viên chức; chịu trách nhiệm trước Nhà nước và tập thể lao động về kết quả sản xuất, kinh doanh của xí nghiệp.
- Điều 13.- Giám đốc do cấp trên bổ nhiệm sau khi tham khảo ý kiến của Đảng uỷ và phiếu tín nhiệm của công nhân, viên chức trong xí nghiệp. Giám đốc là đại diện toàn quyền của xí nghiệp trong mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trường hợp vắng mặt, Giám đốc được uỷ quyền người thay mặt là Phó Giám đốc thứ nhất hoặc Phó Giám đốc (nếu xí nghiệp chỉ có một Phó Giám đốc).
- Điều 14.- Giám đốc có quyền quyết định tổ chức bộ máy quản lý trong xí nghiệp, bảo đảm tinh giản, có hiệu lực.
- IV. CÔNG TÁC CÁN BỘ TRONG XÍ NGHIỆP
- Điều 15.- Trên cơ sở xác định yêu cầu nhiệm vụ của xí nghiệp và tiêu chuẩn cán bộ quản lý theo chức danh và cấp bậc, Giám đốc tiến hành việc quy hoạch, lựa chọn, bố trí và sử dụng cán bộ ở xí nghiệp.
- Điều 16.- Giám đốc tổ chức việc thi tuyển chuyên môn, nghiệp vụ và thực hiện có nền nếp chế độ nhận xét cán bộ trong xí nghiệp theo định kỳ. Trước khi đề nghị lên cấp trên hoặc tự mình bổ nhiệm hay bãi miễn cán bộ. Giám đốc cần lấy ý kiến Đảng uỷ và tham khảo tín nhiệm của công nhân viên chức. Công nhân, viên chức bỏ phiếu tín nhiệm cán bộ theo nguyên tắc dân chủ.
- V. QUAN HỆ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ TRONG NÔI BỘ XÍ NGHIỆP
- Điều 17.- Trong hoạt động của mình, Giám đốc và Hội đồng xí nghiệp phải tôn trọng sự lãnh đạo của tổ chức Đảng tại xí nghiệp theo Điều lệ Đảng; tôn trọng và tạo điều kiện thuận lợi cho Công đoàn, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cũng như các tổ chức quần chúng khác tại cơ sở hoạt động theo đúng Luật Công đoàn và Điều lệ được pháp luật thừa nhận của các tổ chức đó.
- Điều 18.- Giám đốc phải định kỳ báo cáo tình hình hoạt động của xí nghiệp với Đảng uỷ và Hội đồng xí nghiệp. Đảng uỷ và Ban Chấp hành các đoàn thể quần chúng có quyền kiến nghị với Giám đốc những biện pháp cần thiết trong điều hành sản xuất kinh doanh; nếu có những ý kiến không thống nhất thì Giám đốc quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình trước Đại hội công nhân, viên chức và trước cấp trên.
- VI. QUAN HỆ GIỮA XÍ NGHIỆP VỚI CẤP TRÊN, CÁC CƠ QUAN CHỨC NĂNG TỔNG HỢP CỦA NHÀ NƯỚC VÀ VỚI CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
- Điều 19.- Xí nghiệp chịu sự chỉ đạo của một cơ quan cấp trên trực tiếp hoặc cơ quan chủ quản cấp trên.
- Điều 20.- Các cơ quan quản lý Nhà nước khác có trách nhiệm phục vụ và tạo điều kiện thuận lợi cho xí nghiệp, trong hoạt động, sản xuất, kinh doanh; hướng dẫn, kiểm tra xí nghiệp và xử lý các vấn đề thuộc chức năng của mình theo luật định.
- Điều 21.- Xí nghiệp chịu sự lãnh đạo của chính quyền địa phương về quản lý an ninh chính trị, trật tự, an toàn, phúc lợi xã hội, về quản lý dân cư và lao động, quản lý kết cấu hạ tầng, chịu sự kiểm tra của chính quyền địa phương về thi hành các chính sách, pháp luật của Nhà nước.
- Điều 22.- Các cơ quan quản lý cấp trên, các cơ quan quản lý khác của Nhà nước và chính quyền địa phương chịu trách nhiệm trước Nhà nước và trước xí nghiệp về những quyết định sai trái gây thiệt hại cho sản xuất, kinh doanh và lợi ích của công nhân, viên chức xí nghiệp.
- Chương 4: HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, KINH DOANH CỦA XÍ NGHIỆP
- I. KẾ HOẠCH HOÁ
- Điều 23.- Xí nghiệp chủ động xây dựng và thực hiện phương hướng phát triển dài hạn, các kế hoạch 5 năm và hàng năm theo phương hướng, mục tiêu kế hoạch Nhà nước và căn cứ vào nhu cầu thị trường.
- Điều 24.- Mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh, xã hội của xí nghiệp phải được phản ánh trong kế hoạch sản xuất - kỹ thuật - tài chính thống nhất của xí nghiệp.
- Điều 25.- Xí nghiệp phải báo cáo đề án kế hoạch toàn diện lên cơ quan có thẩm quyền giao kế hoạch. Cơ quan này chỉ duyệt và giao cho xí nghiệp những chỉ tiêu pháp lệnh hoặc đơn hàng Nhà nước có bảo đảm các điều kiện vật chất cần thiết.
- Điều 26.- Nhà nước khuyến xí nghiệp kinh doanh tổng hợp, mở rộng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trên cơ sở tự cân đối vật tư, căn cứ vào nhu cầu của thị trường.
- Điều 27.- Trong kỳ kế hoạch, Giám đốc xí nghiệp định kỳ tổ chức việc phân tích tình hình thực hiện kế hoạch, báo cáo công khai trước công nhân, viên chức và báo cáo lên cơ quan quản lý cấp trên.
- Điều 28.- Kết thúc năm kế hoạch Giám đốc xí nghiệp có trách nhiệm tổ chức việc phân tích tình hình thực hiện kế hoạch, báo cáo với đại hội công nhân viên chức và với cơ quan giao kế hoạch.
- II. KHOA HỌC - KỸ THUẬT
Mục này được hướng dẫn bởi Điều 24 Mục IV Thông tư 1291/QLKH-1988 có hiệu lực từ ngày 16/08/1988
- Điều 29.- Xí nghiệp chủ động xây dựng chương trình nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, và đưa vào thực hiện nhằm áp dụng nhanh chóng các thành tựu khoa học - kỹ thuật. Xí nghiệp được Nhà nước bảo đảm quyền sở hữu công nghiệp.
Điều này được hướng dẫn bởi Mục I Thông tư 1291/QLKH-1988 có hiệu lực từ ngày 16/08/1988
- Điều 30.- Trên cơ sở những tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật của Nhà nước, xí nghiệp xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn, định mức, quy trình cụ thể, nghiêm chỉnh chấp hành kỷ luật công nghệ, chế độ vận hành, bảo dưỡng và sửa chữa thiết bị đã được cơ quan có thẩm quyền ban hành.
- Điều 31.- Xí nghiệp được chủ động mở rộng mọi hình thức liên kết với các cơ sở nghiên cứu, các tập thể, cá nhân nhà khoa học trong nước và nước ngoài để đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh và quản lý.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 6 Mục II Thông tư 1291/QLKH-1988 có hiệu lực từ ngày 16/08/1988
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 17, 18 Mục III và Điều 21 Mục IV Thông tư 1291/QLKH-1988 có hiệu lực từ ngày 16/08/1988 - Điều 32.- Xí nghiệp được chủ động xác định các nguồn vốn để thực hiện chương trình tiến bộ khoa học - kỹ thuật, được dành một phần lợi nhuận hoặc số tiền tiết kiệm nhờ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật từ 1 đến 3 năm kể từ khi công trình phát huy tác dụng để tính trả cho tác giả, tập thể và cơ quan chuyển giao kỹ thuật tiến bộ và đưa vào quỹ phát triển sản xuất.
- III. CUNG ỨNG VẬT TƯ VÀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM
- Điều 33.- Cơ quan giao kế hoạch pháp lệnh hoặc đơn hàng có trách nhiệm cùng các tổ hoặc chức có liên quan xác định khả năng đáp ứng yêu cầu cụ thể về vật tư, vận tải, tiêu thụ sản phẩm trước khi giao nhiệm vụ sản xuất cho xí nghiệp, bảo đảm đủ, đồng bộ và kịp thời vật tư chủ yếu và các điều kiện vật chất cần thiết khác tương ứng với nhiệm vụ được giao.
- Điều 34.- Ngoài quỹ vật tư cân đối của Nhà nước, xí nghiệp được quyền quan hệ rộng rãi để mua bán với các tổ chức kinh doanh vật tư, liên kết với các đơn vị kinh tế khác để tạo thêm nguồn vật tư nhằm tận dụng năng lực thiết bị, mở rộng sản xuất, đáp ứng nhu cầu thị trường.
- Điều 35. - Xí nghiệp phải chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm của mình trước người tiêu dùng.
- Điều 36.- Đối với sản phẩm sản xuất vượt, sản phẩm ngoài chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh hoặc đơn hàng Nhà nước, xí nghiệp tự ký hợp đồng tiêu thụ với các tổ chức kinh doanh vật tư, thương nghiệp quốc doanh và các cơ sở kinh doanh khác. Xí nghiệp được mở cửa hàng để giới thiệu sản phảm mới, làm dịch vụ, bán phụ tùng lẻ hoặc tiêu thụ sản phẩm theo kế hoạch của mình, nhưng phải chấp hành nghiêm chỉnh quy định của Nhà nước về lưu thông hàng hoá, dịch vụ.
- IV. LAO ĐỘNG, TIỀN LƯƠNG VÀ CÔNG TÁC XÃ HỘI
- Điều 37.- Giám đốc xí nghiệp có quyền tuyển chọn lao động theo yêu cầu sản xuất và chính sách về lao động của Nhà nước. Nếu địa phương sở tại không có người đáp ứng yêu cầu, xí nghiệp được quyền tuyển người từ nơi khác; chính quyền địa phương có trách nhiệm cùng xí nghiệp giải quyết kịp thời các quyền lợi về đời sống của người lao động theo chính sách, chế độ của Nhà nước.
- Điều 38.- Giám đốc xí nghiệp có trách nhiệm xây dựng các nội quy, quy chế nhằm mục cụ thể hoá những quy định của Nhà nước về kỷ luật lao động, bảo hộ lao động, kỹ thuật an toàn và vệ sinh công nghiệp; tổ chức, giáo dục và tạo điều kiện cho mọi người trong xí nghiệp nắm vững và thực hiện đúng các nội quy và quy chế đó. Trường hợp không bảo đảm an toàn lao động. Giám đốc phải đình chỉ sản xuất. Người lao động có quyền từ chối làm những việc không được bảo đảm an toàn lao động có thể gây nguy hiểm đến tính mạng.
- Điều 39.- Xí nghiệp phải thực hiện nghiêm chỉnh các tiêu chuẩn và định mức lao động do cấp trên ban hành; tổ chức xây dựng, hoàn thiện và thực hiện các tiêu chuẩn và định mức lao động nội bộ của xí nghiệp.
- Điều 40.- Căn cứ vào các chế độ tiền lương, phụ cấp của Nhà nước và định mức lao động, xí nghiệp tính đơn giá tiền lương. Quỹ tiền lương được tính trên cơ sở đơn giá tiền lương và số sản phẩm (dịch vụ) tạo ra.
- Điều 41.- Xí nghiệp có trách nhiệm nộp đầy đủ, đúng hạn quỹ bảo hiểm xã hội và thực hiện đúng chế độ bảo hiểm xã hội của Nhà nước.
- Điều 42.- Xí nghiệp xây dựng các chỉ tiêu thi đua, các hình thức khen thưởng cụ thể để đẩy mạnh phong trào thi đua sản xuất và tiết kiệm, coi trọng sơ kế, tổng kết, phát hiện và nhân các điển hình, kinh nghiệm tiên tiến.
- V. TÀI CHÍNH XÍ NGHIỆP
- Điều 43.- Xí nghiệp được ngân sách cấp vốn lưu động ban đầu một lần theo mức quy định của Nhà nước. Khi Nhà nước điều chỉnh giá hoặc thay đổi nhiệm vụ, mức vốn đó được xác định lại và được bổ sung. Trong quá trình sản xuất, nhu cầu về vốn tăng lên thì xí nghiệp đáp ứng bằng vốn tự có hoặc vốn vay.
- Điều 44.- Trừ những xí nghiệp mới xây dựng với nguồn vốn lớn, các xí nghiệp được để lại toàn bộ khấu hao cơ bản để đổi mới tài sản cố định theo kế hoạch của mình.
Điều này được sửa đổi bởi Quyết định 93-HĐBT năm 1989 có hiệu lực từ ngày 01/07/1989
- Điều 45.- Xí nghiệp có quyền và có trách nhiệm sử dụng có hiệu quả các loại vốn hợp pháp của mình, sử dụng linh hoạt các loại quỹ của xí nghiệp theo nguyên tắc có hoàn lại. Những xí nghiệp không có sản phẩm xuất khẩu nhưng cần một phần vốn ngoại tệ cho nhu cầu sản xuất, được mua ngoại tệ tại Ngân hàng Ngoại thương.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 19 Mục III Thông tư 1291/QLKH-1988 có hiệu lực từ ngày 16/08/1988
- Điều 46.- Nhà nước quy định các khoản xí nghiệp phải nộp ngân sách theo định mức và tỷ lệ ổn định từ 3 đến 5 năm.
- VI. TIỀN TỆ - TÍN DỤNG - THANH TOÁN
- Điều 47. Xí nghiệp phải mở tài khoản tại Ngân hàng và phải gửi các loại vốn bằng tiền (kể cả ngoại tệ) chưa sử dụng vào Ngân hàng; được Ngân hàng trả lãi tiền gửi, kể cả lãi bằng ngoại tệ. Xí nghiệp có quyền rút số tiền gửi; Ngân hàng có trách nhiệm đáp ứng kịp thời nhu cầu của xí nghiệp. Nếu do lỗi chủ quan của Ngân hàng mà xí nghiệp bị thiệt hại trong sản xuất, kinh doanh, thì Ngân hàng phải bồi thường vật chất.
Điều này được hướng dẫn bởi Điều 16 Mục III Thông tư 1291/QLKH-1988 có hiệu lực từ ngày 16/08/1988
- Điều 48.- Xí nghiệp được vay vốn lưu động tại Ngân hàng để sản xuất, kinh doanh theo kế hoạch của xí nghiệp trên cơ sở hợp đồng tín dụng với Ngân hàng.
- Điều 49.- Trên cơ sở quỹ lương kế hoạch xí nghiệp đăng ký với Ngân hàng, Ngân hàng bảo đảm tiền mặt để chi trả tiền lương hàng tháng theo kế hoạch đã đăng ký với điều kiện xí nghiệp còn tiền trong tài khoản. Cuối quý, xí nghiệp thanh toán và cuối năm, quyết toán quỹ lương.
- Điều 50.- Xí nghiệp có quyền lựa chọn các thể thức thanh toán thích hợp với các bạn hàng của mình.
- VII. GIÁ CẢ
- Điều 51.- Giá tiêu thụ sản phẩm của xí nghiệp được định căn cứ vào chi phí sản xuất hợp lý, giá trị sử dụng của sản phẩm, tình hình cung cầu trên thị trường và chính sách giá của Nhà nước.
- Điều 52.- Xí nghiệp được quyền định giá hoặc thoả thuận giá với khách hàng những vật tư, sản phẩm và dịch vụ ngoài doanh mục Nhà nước định giá, theo sự phân cấp quản lý giá của Nhà nước.
- VIII. LIÊN KẾT KINH TẾ
- Điều 53.- Xí nghiệp có quyền chủ động liên kết kinh tế với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, khoa học - kỹ thuật, không giới hạn địa bàn và thành phần kinh tế. Xí nghiệp tự xác định phương hướng, nội dung và lựa chọn hình thức liên kết. Một xí nghiệp có quyền tham gia liên kết với nhiều đơn vị kinh tế khác nhau.
- Điều 54.- Các bên liên kết có nghĩa vụ thi hành nghiêm chỉnh pháp luật, các chính sách, chế độ quản lý kinh tế của Nhà nước và điều lệ liên kết, liên doanh (nếu có).
- IX. XUẤT NHẬP KHẨU VÀ HỢP TÁC KINH TẾ VỚI NƯỚC NGOÀI
- Điều 55.- Các xí nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu được tiếp xúc với thị trường thế giới; được vay, mua, bán ngoại tệ tại Ngân hàng ngoại thương; được huy động cổ phần, vay vốn của nước ngoài và của kiều bào để tổ chức sản xuất hàng xuất khẩu trên nguyên tắc tự chịu trách nhiệm, tự trang trải và làm nghĩa vụ nộp ngân sách; các xí nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu theo yêu cầu của Nhà nước, được Nhà nước ưu tiên bảo đảm các điều kiện vật chất.
- Điều 56.- Xí nghiệp có thu ngoại tệ phải nộp vào ngân sách Nhà nước một phần ngoại tệ theo tỷ lệ quy định (hoặc dưới hình thức thuế); phần ngoại tệ còn lại thuộc quyền sử dụng của xí nghiệp. Xí nghiệp vay vốn nước ngoài nhập vật tư, thiết bị sản xuất, được miễn giảm mức nộp ngoại tệ hoặc thu bằng ngoại tệ vào ngân sách Nhà nước trong thời gian chưa trả xong nợ.
- Điều 57.- Các xí nghiệp có đủ những điều kiện theo quy định của Nhà nước, được phép trực tiếp xuất nhập khẩu, trực tiếp hợp tác, liên kết sản xuất với các tổ chức kinh tế nước ngoài.
- Điều 58.- Các xí nghiệp có sản phẩm xuất khẩu và có nhu cầu nhập khẩu nhưng không trực tiếp xuất nhập khẩu, có quyền chọn các tổ chức kinh tế để uỷ thác xuất nhập khẩu hoặc thực hiện các hoạt động mua bán với các tổ chức kinh doanh ngoại thương.
- X. HỢP ĐỒNG KINH TẾ
- Điều 59.- Mọi quan hệ hoạt động sản xuất, kinh doanh giữa xí nghiệp với các tổ chức và cơ sở sản xuất, kinh doanh khác, đều phải thông qua ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế theo pháp luật.
- XI. SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
- Điều 60.- Xí nghiệp có trách nhiệm sử dụng hợp lý, có hiệu quả, có nghĩa vụ bảo vệ đất đai và nguồn tài nguyên thiên nhiên khác có liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình, bảo vệ môi trường khỏi ô nhiễm và tác động nguy hại khác. Xí nghiệp thực hiện các biện pháp bảo vệ nói trên bằng phương tiện của mình hoặc bằng vốn tín dụng. Trong những trường hợp riêng biệt vượt quá khả năng của xí nghiệp, có thể được ngân sách Nhà nước cấp một phần.
- XII. HẠCH TOÁN, KẾ TOÁN VÀ THỐNG KÊ, BÁO CÁO VÀ KIỂM TRA, KIỂM SOÁT
- Điều 61.- Xí nghiệp phải thực hiện chế độ kế toán và thống kê thống nhất của Nhà nước.
- Điều 62.- Xí nghiệp phải hạch toán giá thành sản phẩm theo đúng các khoản mục, định mức và các chế độ, thể lệ quản lý kinh tế - tài chính của Nhà nước.
- Điều 63.- Xí nghiệp chỉ được áp dụng một hệ thống chứng từ, sổ sách duy nhất do Nhà nước quy định; thực hiện chế độ báo cáo thống kê đúng yêu cầu về nội dung, thời hạn và gửi đúng các địa chỉ quy định.
- Chương 5: NHỮNG QUY ĐỊNH RIÊNG VỀ XÍ NGHIỆP LIÊN HỢP
- Điều 64.- Xí nghiệp liên hợp quốc doanh (liên hiệp sản xuất, công ty (sản xuất - dịch vụ, gọi cung là xí nghiệp liên hợp) là một tổ hợp sản xuất - kinh doanh cơ sở bao gồm một số đơn vị sản xuất - kinh doanh có quan hệ chặt chẽ với nhau về công nghệ, về tổ chức sản xuất có tính chất liên ngành (chế biến, cung ứng nguyên liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, sử dụng tổng hợp nguyên liệu, kết hợp với nghiên cứu và ứng dụng khoa học - kỹ thuật...).
- Điều 65.- Trong xí nghiệp liên hợp, các đơn vị thành viên không có tư cách pháp nhân đầy đủ và thực hiện hạch toán kinh tế nội bộ; tuỳ điều kiện và đặc điểm sản xuất, kinh doanh, có những đơn vị thành viên có tư cách pháp nhân và hạch toán kinh tế độc lập nhưng vẫn hoạt động theo kế hoạch, hạch toán và quản lý thống nhất của xí nghiệp liên hợp. Phạm vi hạch toán kinh tế của các đơn vị thành viên do Tổng Giám đốc xí nghiệp liên hợp quyết định.
- Điều 66.- Các đơn vị thành viên có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:
- Chương 6: THÀNH LẬP, PHÂN CHIA, SÁP NHẬP, GIẢI THỂ VÀ CHUYỂN HÌNH THỨC SỞ HỮU XÍ NGHIỆP
- Điều 67. - Việc thành lập xí nghiệp phải căn cứ vào nhiệm vụ, quy hoạch của ngành và của địa phương, và phải có luận chứng kinh tế - kỹ thuật.
- Điều 68.- Việc phân chia, sáp nhập, giải thể và chuyển hình thức sở hữu xí nghiệp phải do cơ quan có thẩm quyền ra quyết định thành lập xí nghiệp đó quyết định. Khi quyết định phân chia, sáp nhập, giải thể và chuyển hình thức sở hữu xí nghiệp, cơ quan nói trên phải quyết định lập một hội đồng gồm đại diện cấp trên trực tiếp (hoặc cơ quan chủ quản cấp trên) làm chủ tịch và đại diện các cơ quan hữu quan để bàn bạc, giải quyết các vấn đề do việc phân chia, sáp nhập, giải thể hoặc chuyển hình thức sở hữu xí nghiệp đặt ra, nhất là các vấn đề về sử dụng tài sản, vật tư, lao động, tiền vốn, về tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ kế hoạch đối với Nhà nước, và các nghĩa vụ hợp đồng đối với các tổ chức, cơ sở hữu quan.
- Chương 7: ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
- Điều 69.- Điều lệ này áp dụng cho tất cả các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh do trung ương và địa phương quản lý. Đối với những xí nghiệp hoạt động trong điều kiện đặc biệt, Hội đồng Bộ trưởng có một số quy định bổ sung cần thiết.
- Điều 70.- Căn cứ các quy định trong Điều lệ này, các Bộ, Tổng cục chủ quản các ngành xây dựng, vận tải có trách nhiệm quy định hướng dẫn vận dụng cụ thể phù hợp với đặc điểm của các xí nghiệp thuộc ngành mình.
Nghị định số 50-HĐBT ngày 22/03/1988 của Hội đồng Bộ trưởng Về điều lệ xí nghiệp công nghiệp quốc doanh (Văn bản hết hiệu lực)
- Số hiệu văn bản: 50-HĐBT
- Loại văn bản: Nghị định
- Cơ quan ban hành: Hội đồng Bộ trưởng
- Ngày ban hành: 22-03-1988
- Ngày có hiệu lực: 22-03-1988
- Ngày bị sửa đổi, bổ sung lần 1: 01-07-1989
- Ngày bị sửa đổi, bổ sung lần 2: 01-07-1989
- Ngày bị bãi bỏ, thay thế: 03-10-1996
- Tình trạng hiệu lực: Hết hiệu lực
- Thời gian duy trì hiệu lực: 3117 ngày (8 năm 6 tháng 17 ngày)
- Ngày hết hiệu lực: 03-10-1996
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Tiếng anh