- NGHỊ ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 236-HĐBT NGÀY 18-9-1985 VỀ BỔ SUNG, SỬA ĐỔI MỘT SỐ CHẾ ĐỘ, CHÍNH SÁCH VỀ THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
- VỀ LƯƠNG HƯU
- Điều 1 .- Nam công nhân viên chức đủ 60 tuổi (nếu là quân nhân thì đủ 55 tuổi) và có đủ 30 năm công tác, nữ công nhân, viên chức đủ 55 tuổi (nếu là quân nhân thì đủ 50 tuổi) và có đủ 25 năm công tác thì được hưởng lương hưu.
- Điều 2.- Công nhân, viên chức và quân nhân làm các nghề nặng nhọc, độc hại, hoặc làm việc ở những vùng có nhiều khó khăn, gian khổ, hoặc vì bị thương, bị tai nạn, ốm đau mà mất sức lao động, đã có đủ điều kiện về thời gian công tác, nhưng chưa đủ điều kiện về tuổi đời thì cũng được hưởng lương hưu.
Quy định đối với quân nhân bị thương, tai nạn, ốm đau mà mất sức lao động được hướng dẫn bởi Khoản 3 Thông tư liên tịch 08/TT-LB có hiệu lực từ ngày 15/10/1985
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Mục I, Khoản 2 Mục II Phần A Chương "VỀ LƯƠNG HƯU" Thông tư 48-TBXH-1985 có hiệu lực từ ngày 15/10/1985 - Điều 3.- Lương hưu hàng tháng đối với nam có đủ 30 năm công tác, đối với nữ có đủ 25 năm công tác, được tính bằng 75% lương chính và phụ cấp thâm niên (nếu có); ngoài ra thêm mỗi năm công tác được thêm 1%, tối đa không quá 95% lương chính và phụ cấp thâm niên.
Cách tính lương hưu đối với những quân nhân có đủ điều kiện theo Điều 2 Nghị định 189/HĐBT được hướng dẫn bởi Khoản 4 Thông tư liên tịch 08/TT-LB có hiệu lực từ ngày 15/10/1985
Điều này được hướng dẫn bởi Phần B Chương "VỀ LƯƠNG HƯU" Thông tư 48-TBXH-1985 có hiệu lực từ ngày 15/10/1985 - Điều 4 .- Cán bộ hoạt động cách mạng trước tháng Tám năm 1945 thuộc diện thi hành quyết định số 128-HĐBT ngày 8-10-1984 của Hội đồng Bộ trưởng, cứ mỗi thâm niên hoạt động cách mạng trước tháng 8 năm 1945 được phụ cấp ưu đãi hàng tháng 20 đồng.
- Điều 5. - Công nhân, viên chức và quân nhân đã nghỉ hưu trước ngày ban hành nghị định này thì căn cứ vào mức lương cũ khi nghỉ hưu chuyển đổi sang mức lương mới cùng thang bậc lương để tính lại lương hưu theo tỷ lệ đang hưởng, thấp nhất cũng được hưởng bằng 60% mức lương tối thiểu mới. Trường hợp thấy có lợi và có đủ điều kiện để tính lại lương hưu theo quy định mới (điều 1 và điều 3 trên đây) thì tính lại để hưởng theo mức ấy.
- VỀ TRỢ CẤP THƯƠNG TẬT
- Điều 6.- Thương binh được xếp thương tật theo 4 hạng:
- Điều 7. Thương binh loại A và thương binh loại B được hưởng trợ cấp thương tật hàng tháng tính trên lương chính và phụ cấp thâm niên (nếu có) khi bị thương như sau:
- Điều 8.- Ngoài trợ cấp thương tật nói ở điều 7, thương binh hạng 1 được nuôi dưỡng ở gia đình, phường xã, còn được phụ cấp hàng tháng 70 đồng cho người phục vụ và được cấp một khoản tiền để mua sắm những phương tiện sinh hoạt cần thiết theo quy định của Bộ Thương binh xã hội.
- Điều 9.- Thương binh đã được xác nhận trước ngày ban hành Nghị định này chuyển sang xếp hạng thương tật theo quy định ở điều 6, và căn cứ vào mức lương cũ khi bị thương chuyển đổi sang mức lương mới cùng thang bậc lương để tính lại trợ cấp thương tật theo quy định ở điều 7, điều 8.
- Điều 10 .- Những trang thiết bị và đồ dùng cần thiết cho thương binh, bệnh binh do nhu cầu của thương tật và bệnh lý thì không tính vào trợ cấp thương tật. Bộ Thương binh và xã hội quy định cụ thể việc cấp phát những trang thiết bị và đồ dùng này.
- VIỆC TRỢ CẤP ĐỐI VỚI BỆNH BINH VÀ QUÂN NHÂN PHỤC VIÊN
- Điều 11.- Quân nhân bị mất sức lao động từ 41% trở lên về sinh sống với gia đình (kể cả quân nhân hưởng chế độ trợ cấp mất sức lao động theo nghị định số 500-NĐ-LB ngày 12-11-1985 của Liên bộ Quốc Phòng - Cứu tế xã hội - Tài chính và nghị định số 523-TTg ngày 6 tháng 1 năm 1958 của Thủ tướng Chính phủ; theo điều lệ tạm thời về chế độ đãi ngộ quân nhân ban hành bằng nghị định số 161-CP ngày 30-10-1964 của Hội đồng Chính phủ) và bệnh binh (theo quyết định số 78-CP ngày 13-4-1978 của Hội đồng Chính phủ) nay gọi chung là bệnh binh và xếp theo 3 hạng:
- Điều 12.- Bệnh binh các hạng 1, 2, 3 được hưởng trợ cấp hàng tháng bằng mức trợ cấp của thương binh loại B khi về gia đình có cùng hạng mất sức lao động nói ở điều 7. Bệnh binh thuộc diện hưởng sinh hoạt phí thì trợ cấp sức hàng tháng tính trên mức lương thống nhất là 250 đồng; công nhân, viên chức trước khi vào bộ đội đã có mức lương cao hơn thì tính theo mức lương ấy. Bệnh binh hạng 1 được nuôi dưỡng ở gia đình, ngoài trợ cấp nói trên, còn được phụ cấp hàng tháng 70 đồng cho người phục vụ nếu có quyết định của Hội đồng giảm định y khoa.
Chế độ trợ cấp đối với bệnh binh xuất ngũ được hướng dẫn bởi Khoản 5 Thông tư liên tịch 08/TT-LB có hiệu lực từ ngày 15/10/1985
Điều này được hướng dẫn bởi Mục II và III Phần A Chương "TRỢ CẤP ĐỐI VỚI BỆNH BINH VÀ QUÂN NHÂN PHỤC VIÊN" Thông tư 48-TBXH-1985 có hiệu lực từ ngày 15/10/1985 - Điều 13 .- Từ nay, quân nhân phục viên về địa phương được trợ cấp một lần một khoản tiền bằng 1 tháng lương và các khoản phụ cấp (nếu có), ngoài ra, cứ mỗi năm phục vụ trong quân đội được trợ cấp 1 tháng lương và các khoản phụ cấp (nếu có). Khoản tiền này do đơn vị quân đội cấp phát trước khi quân nhân về địa phương. Nếu trước khi phục viên, quân nhân thuộc diện hưởng sinh hoạt phí thì trợ cấp được tính trên mức lương thống nhất là 250 đồng; công nhân, viên chức trước khi vào bộ đội đã có mức lương cao hơn thì tính theo mức lương ấy.
- VỀ TRỢ CẤP ĐỐI VỚI CÔNG NHÂN, VIÊN CHỨC NGHỈ VIỆC VÌ MẤT SỨC LAO ĐỘNG
- Điều 14.- Công nhân, viên chức vì ốm đau (không phải do bệnh nghề nghiệp), vì tai nạn (không phải do tai nạn lao động) mà mất sức lao động từ 61% trở lên, hoặc vì già yếu hết tuổi lao động được nghỉ việc thì hưởng chế độ trợ cấp mất sức lao động như sau:
Điều này được sửa đổi bởi Điều 1, Điều 2, Điều 3 Quyết định 60-HĐBT năm 1990 có hiệu lực từ ngày 16/03/1990
Điều này được hướng dẫn bởi Phần A Chương "TRỢ CẤP ĐỐI VỚI CÔNG NHÂN, VIÊN CHỨC NGHỈ HƯU VÌ MẤT SỨC LAO ĐỘNG" Thông tư 48-TBXH-1985 có hiệu lực từ ngày 15/10/1985 - Điều 15.- Công nhân, viên chức nghỉ việc vì mất sức lao động, hưởng trợ cấp hàng tháng, còn trong độ tuổi lao động thì 2 năm phải giám định lại sức lao động một lần. Chứng nhận về mất sức lao động là điều kiện bắt buộc để được nhận trợ cấp tiếp.
- Điều 16.- Công nhân, viên chức nghỉ việc vì mất sức lao động, được xác định sức lao động đã hồi phục, thì thôi hưởng trợ cấp hàng tháng.
- Điều 17.- Công nhân, viên chức đã về nghỉ việc vì mất sức lao động từ trước ngày ban hành nghị định này và đang hưởng trợ cấp hàng tháng thì nay phải giám định lại sức lao động. Đối với những trường hợp mất sức lao động như quy định ở điều 14 thì giải quyết như sau:
- VỀ TRỢ CẤP ĐỐI VỚI NHỮNG NGƯỜI CÓ CÔNG GIÚP ĐỠ CÁCH MẠNG
- Điều 18.- Những người được xác nhận có công giúp đỡ cách mạng trước ngày Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 thuộc diện quy định tại Thông tư số 83-TTg ngày 22 tháng 8 năm 1962 đã được tặng thưởng kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công" kèm theo bằng "Có công với nước" hoặc được tặng thưởng bằng "Có công với nước", thì được trợ cấp ưu đãi hàng tháng 50 đồng.
- Điều 19.- Những người có công giúp đỡ cách mạng nói ở điều 18, nếu già yếu, mất sức lao động và gia đình không có điều kiện nuôi dưỡng, thì được nuôi dưỡng ở cơ sở của Nhà nước hoặc ở phường, xã; sinh hoạt phí nuôi dưỡng hàng tháng là 160 đồng.
- VỀ CHI PHÍ CHÔN CẤT VÀ TRỢ CẤP VÌ MẤT NGƯỜI NUÔI DƯỠNG
- Điều 20.- Công nhân, viên chức và quân nhân chết được chi một khoản tiền về chôn cất. Bộ Thương binh và xã hội quy định cụ thể khoản tiền này.
- Điều 21.- Khi công nhân, viên chức và quân nhân chết, thân nhân được hưởng trợ cấp như sau:
- Điều 22.- Sau thời gian hưởng nguyên lương như đã nói ở điều 21, thân nhân chủ yếu của người chết đã hết tuổi lao động hoặc chưa đến tuổi lao động hoặc mất sức lao động, được trợ cấp tiền tuất hàng tháng như sau:
- Điều 23.- Công nhân, viên chức và quân nhân chết, nếu còn cha mẹ, vợ, chồng đã già yếu, mất sức lao động và gia đình không có điều kiện nuôi dưỡng hoặc có con mồ côi cả cha mẹ, thì những người này được nuôi dưỡng ở các cơ sở của Nhà nước hoặc ở phường, xã.
- VỀ TRỢ CẤP XÃ HỘI VÀ TRỢ CẤP CỨU TẾ CHO CÔNG DÂN CÓ NHIỀU KHÓ KHĂN TRONG ĐỜI SỐNG
- Điều 24.- Từ nay bãi bỏ việc trợ cấp hàng tháng theo quyết định số 206-CP ngày 30 tháng 5 năm 1979 của Hội đồng Chính phủ.
- Điều 25.- Trẻ mồ côi, người già yếu, người tàn tật không nơi nương tựa, nếu nuôi dưỡng ở các cơ sở tập trung do Nhà nước quản lý thì được cấp sinh hoạt phí hàng tháng 110 đồng, ngoài ra, cần tổ chức cho họ lao động sản xuất dưới những hình thức thích hợp để có thêm thu nhập.
- Điều 26.- Người mắc bệnh tâm thần mãn tính được tập trung nuôi ở các trại, trẻ em suy dinh dưỡng, trẻ em bị bại liệt và những người khác được tiếp nhận vào các trung tâm phục hồi chức năng, được nuôi dưỡng với mức sinh hoạt phí hàng tháng 110 đồng.
- Điều 27.- Đối với trẻ mồ côi, người già yếu, người tàn tật không nơi nương tựa sinh sống tại địa phương thì Uỷ ban Nhân dân tỉnh, huyện, xã và cấp hành chính tương đương xét trợ cấp cứu tế một lần hoặc thường kỳ, bảo đảm cho mỗi người hàng tháng thấp nhất cũng có được một khẩu phần lương thực đủ sống.
- ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
- Điều 28.- Tất cả các khoản lương hưu và trợ cấp hàng tháng nói trong nghị định này đều được cộng thêm phụ cấp chênh lệch giá sinh hoạt theo vùng quy định tại ngày 18 tháng 9 năm 1985 của Hội đồng Bộ trưởng về cải tiến chế độ tiền lương của công nhân, viên chức và các lực lượng vũ trang.
- Điều 29.- Công nhân, viên chức, quân nhân, thương binh, bệnh binh được hưởng phụ cấp khu vực của nơi cư trú (nếu nơi đó có phụ cấp khu vực) tính trên lương hưu hoặc trợ cấp hàng tháng.
- Điều 30.- Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1 tháng 9 năm 1985.
- Điều 31.- Bộ Thương binh và xã hội cùng các Bộ, các cơ quan có liên quan quy định cụ thể và hướng dẫn thi hành Nghị định này.
Điều này được hướng dẫn bởi Thông tư 48-TBXH-1985 có hiệu lực từ ngày 15/10/1985
- Điều 32.- Thủ trưởng các Bộ, Uỷ ban Nhà nước, các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng và chủ tịch Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương có trách nhiệm thi hành Nghị định này.
Nghị định số 236-HĐBT ngày 18/09/1985 của Hội đồng Bộ trưởng Về việc sửa đổi chế độ, chính sách thương binh và xã hội (Tình trạng hiệu lực không xác định)
- Số hiệu văn bản: 236-HĐBT
- Loại văn bản: Nghị định
- Cơ quan ban hành: Hội đồng Bộ trưởng
- Ngày ban hành: 18-09-1985
- Ngày có hiệu lực: 01-09-1985
- Ngày bị sửa đổi, bổ sung lần 1: 16-03-1990
- Tình trạng hiệu lực: Không xác định
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Chế độ hiển thị lược đồ:
Vui lòng Đăng ký tài khoản hoặc đăng nhập để xem và tải văn bản gốc.
Lược đồ văn bản:
Nghị định số 236-HĐBT ngày 18/09/1985 của Hội đồng Bộ trưởng Về việc sửa đổi chế độ, chính sách thương binh và xã hội (Tình trạng hiệu lực không xác định)
Văn bản bị bãi bỏ, thay thế (0)
Văn bản bãi bỏ, thay thế (0)
Văn bản bị sửa đổi, bổ sung (0)
Văn bản được hướng dẫn, quy định chi tiết (0)
Văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết (2)
- Thông tư liên tịch số 08/TT-LB ngày 25/08/1986 Giải thích và bổ sung một số điểm và thực hiện Nghị định 236/HĐBT về bỏ, sửa đổi một số chế độ, chính sách về Thương binh và Xã hội do Bộ Quốc phòng-Lao động-Thương binh và xã hội ban hành (Văn bản hết hiệu lực) (25-08-1986)
- Thông tư số 48-TBXH ngày 30/09/1985 Hướng dẫn Nghị định 236-HĐBT-1985 sửa đổi chế độ, chính sách về thương binh và xã hộ (Văn bản hết hiệu lực) (30-09-1985)
Văn bản bị đính chính (0)
Văn bản đính chính (0)
Văn bản được hợp nhất (0)
Văn bản hợp nhất (0)
Tiếng anh