- NGHỊ ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 122-HĐBT NGÀY 20 THÁNG 7 NĂM 1982 VỀ CHẾ ĐỘ QUẢN LÝ CÁC CHƯƠNG TRÌNH TIẾN BỘ KHOA HỌC KỸ THUẬT TRỌNG ĐIỂM CỦA NHÀ NƯỚC
- Chương 1: NHỮNG NGUYÊN TẮC CHUNG
- Điều 1. Chương trình tiến bộ khoa học kỹ thuật trọng điểm của Nhà nước (dưới đây gọi tắt là "chương trình") là hệ thống đồng bộ các nhiệm vụ khoa học kỹ thuật (bao gồm các công việc: điều tra, nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm, sản xuất thử, đưa vào sản xuất, cải tiến tổ chức, hợp lý hoá sản xuất...) và các biện pháp thực hiện (tổ chức, đầu tư, xây dựng cơ bản...) nhằm góp phần giải quyết một hoặc một số mục tiêu trọng điểm của nền kinh tế quốc dân trên cơ sở áp dụng các thành tựu khoa học và kỹ thuật.
- Điều 2. Xuất phát từ mục tiêu được lựa chọn, về mặt nhiệm vụ khoa học kỹ thuật mỗi chương trình gồm hai nội dung chính:
- Điều 3. Các ngành, các cấp phải bảo đảm các điều kiện ưu tiên về cán bộ, tài chính, vật tư, xây dựng cơ bản, vận tải, hợp tác quốc tế về khoa học kỹ thuật và các mặt khác để thể hiện có kết quả các chương trình đã được thể hiện vào kế hoạch Nhà nước.
- Điều 4. Trong việc quản lý các chương trình phải kết hợp vận dụng các chế độ hiện hành về kế hoạch hoá khoa học và kỹ thuật về ký kết hợp đồng, về khuyến khích tinh thần, vật chất để bảo đảm thực hiện chương trình.
- Điều 5. Mỗi chương trình tiến bộ khoa học kỹ thuật trọng điểm của Nhà nước phải có một ban chủ nhiệm chương trình phụ trách, đứng đầu ban là một Chủ nhiệm chương trình.
- Chương 2: XÂY DỰNG KẾ HOẠCH HOÁ CÁC CHƯƠNG TRÌNH TIẾN BỘ KHOA HỌC KỸ THUẬT TRỌNG ĐIỂM CỦA NHÀ NƯỚC
- Điều 6. Để bảo đảm sự thực hiện, mỗi chương trình tiến bộ khoa học kỹ thuật trọng điểm phải có một kế hoạch thực hiện và điều hoà được cơ quan có thẩm quyền duyệt trước khi ghi vào kế hoạch Nhà nước.
- Điều 7. Kế hoạch thực hiện và điều hoà của mỗi chương trình bao gồm:
- Điều 8. Các chương trình và kế hoạch thực hiện và điều hoà của chương trình được xét duyệt theo nguyên tắc sau đây:
- Điều 9. Các Bộ, Tổng cục, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, các cơ quan, đơn vị cơ sở được phân công tham gia các chương trình, các cơ quan quản lý chức năng ở các ngành, các cấp có trách nhiệm thể hiện đầy đủ các nội dung tương ứng của kế hoạch thực hiện và điều hoà vào kế hoạch của ngành, địa phương, cơ quan đơn vị mình theo tinh thần ưu tiên như đã nói ở Điều 3 của Nghị định này.
- Điều 10. Chế độ báo cáo tình hình thực hiện chương trình
- Chương 3: ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH VÀ CHẾ ĐỘ KHUYẾN KHÍCH
- Điều 11. Nguồn tài chính của các chương trình gồm có:
- Điều 12. Kinh phí cần thiết để thực hiện các nhiệm vụ, vấn đề, đề tài thuộc chương trình, sau khi được ghi vào kế hoạch Nhà nước phải được thể hiện vào ngân sách Nhà nước và các kế hoạch tài chính của ngành, địa phương và đơn vị cơ sở có liên quan và ghi thành một khoản, mục riêng. Các cơ quan cấp phát cũng như các cơ quan quản lý sử dụng kinh phí có trách nhiệm đáp ứng nhu cầu tài chính cho các chương trình theo đúng kế hoạch và dự toán được duyệt, không được tự ý điều chỉnh hoặc sử dụng các kinh phí đó vào các mục đích khác; nếu kiểm tra phát hiện việc sử dụng sai kinh phí thì cơ quan làm sai phải dùng kinh phí của mình bù trả lại.
- Điều 13. Trong kinh phí sự nghiệp cấp cho chương trình được dành một tỷ lệ thích hợp cho hoạt động chung của Ban chủ nhiệm chương trình như chi phí hội nghị, thù lao khen thưởng các cán bộ và cơ quan thực hiện tốt chương trình v.v... tỷ lệ này do Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước cùng với Bộ Tài chính quy định.
- Điều 14. Khi có những nhu cầu đột xuất nảy sinh trong quá trình thực hiện chương trình Bộ chủ trì và Chủ nhiệm chương trình phải gửi đề nghị bằng văn bản cho Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước.
- Điều 15. Tuỳ theo đề nghị của Bộ chủ trì và của Chủ nhiệm chương trình, kinh phí hàng năm dành cho các chương trình có thể hoặc phân bổ trực tiếp cho các cơ quan tham gia chương trình, hoặc cấp toàn bộ cho Bộ chủ trì để Chủ nhiệm chương trình phân bổ cho các cơ quan tham gia chương trình và ký hợp đồng với cơ quan khác có liên quan.
- Điều 16:. Hàng năm căn cứ đề nghị của Bộ chủ trì, của Chủ nhiệm chương trình và Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quyết định việc khen thưởng về tinh thần và vật chất cho các cơ quan, đơn vị, tập thể và cá nhân có thành tích trong việc thực hiện chương trình.
- Điều 17. 6 tháng một lần, trên cơ sở danh sách do Bộ chủ trì, Bộ chủ quản và Chủ nhiệm chương trình đề nghị, Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật nhà nước xét cấp phụ cấp trách nhiệm cho các thành viên Ban chủ nhiệm chương trình và các Chủ nhiệm đề tài.
- Điều 18. Các cơ quan, đơn vị và cá nhân vì thiếu trách nhiệm mà không hoàn thành các nhiệm vụ và đề tài được phân công trong kế hoạch thực hiện và điều hoà tuỳ theo mức độ phạm lỗi sẽ bị thi hành kỷ luật thích đáng.
- Chương 4: TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN VÀ CÁN BỘ KHOA HỌC KỸ THUẬT ĐỐI VỚI CÁC CHƯƠNG TRÌNH TIẾN BỘ KHOA HỌC KỸ THUẬT TRỌNG ĐIỂM CỦA NHÀ NƯỚC
- Điều 19. Các Bộ, Tổng cục, các Uỷ ban nhân dân địa phương các đơn vị cơ sở và cán bộ khoa học kỹ thuật được phân công thực hiện chương trình đều có trách nhiệm bảo đảm thực hiện có chất lượng và đúng tiến độ các nhiệm vụ và đề tài được giao.
- Điều 20. Bộ trưởng các Bộ được giao chủ trì các chương trình phải chịu trách nhiệm trước Hội đồng Bộ trưởng về toàn bộ quá trình thực hiện chương trình từ khâu xây dựng kế hoạch thực hiện và điều hoà, bố trí các điều kiện thực hiện (cán bộ tài chính, vật tư... và sử dụng các cơ quan chức năng của Bộ để giúp Chủ nhiệm chương trình hoạt động), đến khâu báo cáo, tổng kết hoàn thành mục tiêu được đề ra cho chương trình.
- Điều 21. Dưới sự lãnh đạo của Bộ trưởng Bộ chủ trì chương trình, Chủ nhiệm chương trình cùng với Ban chủ nhiệm chương trình có trách nhiệm:
- Điều 22. Chủ nhiệm chương trình có những quyền hạn sau đây:
- Điều 23. Chủ nhiệm đề tài có nhiệm vụ:
- Điều 24. Chủ nhiệm đề tài có quyền hạn:
- Điều 25. Các bộ có đơn vị thuộc quyền được giao thực hiện đề tài trong chương trình (trong văn bản gọi tắt là Bộ chủ quản) có trách nhiệm:
- Điều 26. Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước có trách nhiệm:
- Điều 27. Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Vật tư và các cơ quan quản lý chức năng khác trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước, tổ chức quản lý các chương trình theo các quy định trong Nghị định này.
- Chương 5: ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
- Điều 28. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Các văn bản quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.
- Điều 29. Căn cứ Nghị định này, Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Vật tư và các ngành có liên quan, trong phạm vi chức năng của mình, có trách nhiệm ban hành các văn bản cụ thể hướng dẫn việc thực hiện và theo dõi kiểm tra việc thi hành Nghị định này ở các ngành, các cấp.
Nghị định số 122-HĐBT ngày 20/07/1982 của Hội đồng Bộ trưởng Về chế độ quản lý các chương trình tiến bộ khoa học kỹ thuật trọng điểm của Nhà nước (Tình trạng hiệu lực không xác định)
- Số hiệu văn bản: 122-HĐBT
- Loại văn bản: Nghị định
- Cơ quan ban hành: Hội đồng Bộ trưởng
- Ngày ban hành: 20-07-1982
- Ngày có hiệu lực: 20-07-1982
- Tình trạng hiệu lực: Không xác định
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Chế độ hiển thị lược đồ:
Vui lòng Đăng ký tài khoản hoặc đăng nhập để xem và tải văn bản gốc.
Lược đồ văn bản:
Nghị định số 122-HĐBT ngày 20/07/1982 của Hội đồng Bộ trưởng Về chế độ quản lý các chương trình tiến bộ khoa học kỹ thuật trọng điểm của Nhà nước (Tình trạng hiệu lực không xác định)
Văn bản bị bãi bỏ, thay thế (0)
Văn bản bãi bỏ, thay thế (0)
Văn bản bị sửa đổi, bổ sung (0)
Văn bản sửa đổi, bổ sung (0)
Văn bản được hướng dẫn, quy định chi tiết (0)
Văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết (1)
Văn bản bị đính chính (0)
Văn bản đính chính (0)
Văn bản được hợp nhất (0)
Văn bản hợp nhất (0)
Tiếng anh