- NGHỊ ĐỊNH BAN HÀNH BẢN ĐIỀU LỆ ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH
- Điều 1. Nay bãi bỏ bản điều lệ đăng ký hộ tịch kèm theo nghị định của Thủ tướng Chính phủ số 764/TTg ngày 8 tháng 5 năm 1956, và ban hành bản điều lệ đăng ký hộ tịch mới kèm theo Nghị định này.
- Điều 2. Ủy ban hành chính các khu tự trị và Ủy ban hành chính các khu, tỉnh trực thuộc Trung ương có vùng dân tộc thiểu số sẽ căn cứ vào bản điều lệ này mà quy định những điểm châm chước cho thích hợp với hoàn cảnh, phong tục, tập quán của miền núi, quy định này phải được Hội đồng Chính phủ phê chuẩn.
- Điều 3. Ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định chi tiết và hướng dẫn Ủy ban hành chính các cấp thi hành bản điều lệ kèm theo Nghị định này.
- ĐIỀU LỆ ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH
- Chương 1. ĐĂNG KÝ VIỆC SINH
- Điều 1. Trong hạn 30 ngày kể từ ngày đẻ con, cha hay mẹ phải khai sinh cho con tại Ủy ban hành chính cơ sở nơi cư trú.
- Điều 2. Khi khai sinh phải xuất trình giấy chứng sinh do cơ quan y tế đã đỡ đẻ cấp. Trường hợp không có giấy chứng sinh thì có thể xuất trình giấy chứng nhận do người chịu trách nhiệm về hành chính ở xóm, bản, phố hay cơ quan, xí nghiệp, công, nông trường cấp.
- Điều 3. Con ngoài giá thú cũng phải khai sinh.
- Điều 4. Trường hợp trẻ con mới đẻ bị bỏ rơi, thì người trông thấy đầu tiên có nghĩa vụ tạm thời bảo vệ đứa trẻ và báo ngay cho Ủy ban hành chính hoặc Công an cơ sở gần nhất. Ủy ban hành chính đứng khai sinh và tìm người nuôi đứa trẻ.
- Chương 2. ĐĂNG KÝ VIỆC TỬ
- Điều 5. Khi có người chết, bất cứ người lớn hay trẻ con, thì trong hạn 24 giờ kể từ khi người chết tắt thở, người thân thuộc phải khai tử với Ủy ban hành chính cơ sở nơi xảy ra việc chết. Trường hợp không có người thân thuộc hoặc người đó vắng mặt, thì người ở cùng nhà, người láng giềng, hoặc người có trách nhiệm trong cơ quan, xí nghiệp, công, nông trường nơi có người chết phải khai tử.
- Điều 6. Trường hợp trẻ con đẻ ra rồi mới chết thì phải vừa đăng ký vào sổ khai sinh vừa đăng ký vào sổ khai tử.
- Điều 7. Khi khai tử, phải khai rõ:
- Chương 3. ĐĂNG KÝ VIỆC KẾT HÔN
- Điều 8. Việc kết hôn phải được Ủy ban hành chính cơ sở nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ công nhận và đăng ký vào sổ kết hôn.
- Điều 9. Muốn xin đăng ký kết hôn, nam và nữ phải khai với Ủy ban hành chính những điểm sau:
- Điều 10. Trường hợp xét thấy nam hay nữ không đủ điều kiện để kết hôn, thì Ủy ban hành chính không đăng ký và giải thích cho đương sự rõ lý do.
- Điều 11. Vợ chồng đã ly hôn nay muốn kết hôn lại với nhau cũng đăng ký kết hôn theo thủ tục nói trên.
- Chương 4. GHI CHÚ CÁC VIỆC THAY ĐỔI VỀ HỘ TỊCH
- Điều 12. Sau khi công nhận việc nuôi con nuôi thì Ủy ban hành chính cơ sở ghi chú việc ấy vào sổ đã đăng ký việc sinh của người con nuôi, và vào giấy khai sinh đã cấp.
- Điều 13. Khi nhận được đơn của cha hay mẹ nhận con ngoài giá thú hay khi nhận được bản án của Toà án nhân dân cho phép người con ngoài giá thú nhận cha hay mẹ đẻ, thì Ủy ban hành chính cơ sở ghi chú việc ấy vào sổ đã đăng ký việc sinh của người con.
- Điều 14. Khi nhận được quyết định cho thay đổi quốc tịch, thay đổi họ, tên, chữ đệm, cải chính ngày, tháng, năm sinh, thì Ủy ban hành chính cơ sở ghi chú sự thay đổi ấy vào sổ đã đăng ký việc sinh của đương sự.
- Điều 15. Những sự thay đổi về hộ tịch vừa phải ghi chú vào sổ hộ tịch để ở cấp cơ sở, vừa phải ghi chú vào sổ hộ tịch để Ủy ban hành chính huyện, châu, thị xã hoặc thành phố.
- Chương 5. ĐIỀU KHOẢN CHUNG
- Điều 16. Mỗi loại việc sinh, tử, kết hôn phải đăng ký vào một thứ sổ riêng. Mẫu sổ do Bộ Nội vụ quy định.
- Điều 17. Trong sổ hộ tịch, trong các bản chính, bản sao và các giấy chứng nhận hộ tịch khác không được viết tắt, tẩy, xóa, viết chữ nọ đè lên chữ kia hoặc viết hai thứ mực.
- Điều 18. Khi có đơn xin ghi thêm những điều thiếu sót và sửa chữa những điều sai lầm, nếu là sai lầm thiếu sót thường, thì Ủy ban hành chính đã đăng ký hộ tịch có quyền sửa chữa, bổ sung; nếu là sai lầm thiếu sót quan trọng, thì việc sửa chữa, bổ sung phải được Ủy ban hành chính khu, thành phố, tỉnh cho phép.
- Điều 19. Những việc sinh, tử xảy ra trước hay sau ngày thi hành bản điều lệ này mà chưa đăng ký trong thời hạn đã quy định thì được đăng ký quá hạn.
- Điều 20. Không được dùng giấy khai danh dự để chứng minh các việc sinh, tử, kết hôn xảy ra sau ngày thi hành bản điều lệ này.
- Điều 21. Giấy chứng nhận hộ tịch do Đại sứ, Lãnh sự hay Đại diện ngoại giao của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cấp cho Việt kiều ở nước ngoài có giá trị như giấy chứng nhận cấp ở trong nước.
- Điều 22. Đối với những việc sinh, tử, kết hôn đã xảy ra tại miền Nam thì có thể cho đăng ký quá hạn hoặc đăng ký lại.
- Điều 23. Việc sinh, tử của ngoại kiều cư trú ở Việt Nam và việc kết hôn giữa ngoại kiều với người Việt Nam đều phải đăng ký theo điều lệ này.
- Điều 24. Những việc sinh, tử, kết hôn đã được Ủy ban hành chính cơ sở đăng ký vào sổ hộ tịch phải được thống kê và báo cáo lên Ủy ban hành chính cấp trên theo mẫu và chế độ báo cáo do Bộ Nội vụ quy định.
- Điều 25. Người có nhiệm vụ xin đăng ký các việc sinh, tử, kết hôn mà không làm đúng những điều đã quy định trong bản điều lệ này, sẽ bị phê bình, cảnh cáo hay bị xử lý theo pháp luật.
- Điều 26. Người nào tự ý sửa chữa, giả mạo giấy tờ hộ tịch, khai gian về hộ tịch sẽ bị trừng phạt theo pháp luật.
- Điều 27. Bộ Nội vụ có trách nhiệm hướng dẫn và đôn đốc Ủy ban hành chính các cấp thi hành bản điều lệ này.
Nghị định số 4-CP ngày 16/01/1961 của Hội đồng Chính phủ Điều lệ đăng ký hộ tịch (Văn bản hết hiệu lực)
- Số hiệu văn bản: 4-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Cơ quan ban hành: Hội đồng Chính phủ
- Ngày ban hành: 16-01-1961
- Ngày có hiệu lực: 01-04-1961
- Ngày bị bãi bỏ, thay thế: 25-10-1998
- Tình trạng hiệu lực: Hết hiệu lực
- Thời gian duy trì hiệu lực: 13721 ngày (37 năm 7 tháng 6 ngày)
- Ngày hết hiệu lực: 25-10-1998
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Tiếng anh