- NGHỊ ĐỊNH BAN HÀNH ĐIỀU LỆ CẤP PHÁT KIẾN THIẾT CƠ BẢN
- Điều 1 Nay ban hành bản điều lệ cấp phát kiến thiết cơ bản kèm theo Nghị định này, thay thế cho bản điều lệ tạm thời về cấp phát kiến thiết cơ bản kèm theo Nghị định số 574-TTg ngày 26 tháng 11 năm 1957.
- Điều 2 Việc quản lý vốn kiến thiết cơ bản thuộc tổng dự toán địa phương cũng thi hành theo bản điều lệ cấp phát kiến thiết cơ bản này.
- Điều 3. Tất cả các Bộ, các ngành, các cấp, các đơn vị có trách nhiệm đến công tác kiến thiết cơ bản và quản lý vốn kiến thiết cơ bản, trong phạm vi trách nhiệm của mình, đều phải thi hành bản điều lệ này. Đơn vị hay cá nhân nào không thi hành đúng, gây ra lãng phí, tham ô, không hoàn thành kế hoạch kiến thiết cơ bản, phải chịu trách nhiệm và chịu kỷ luật của Nhà nước.
- Điều 4 Ông Bộ trưởng Bộ Tài chính chịu trách nhiệm giải thích bản điều lệ này và quy định những chi tiết thi hành.
- Điều 5 Bản điều lệ này thi hành kể từ ngày ban hành. Tất cả những điều khoản quy định từ trước trái với bản điều lệ này đều bãi bỏ.
- ĐIỀU LỆ CẤP PHÁT KIẾN THIẾT CƠ BẢN
- Chương 1: NGUYÊN TẮC CHUNG
- Điều 1 Điều lệ cấp phát kiến thiết cơ bản này nhằm bảo đảm cung cấp vốn kiến thiết cơ bản (dưới đây viết tắt là KTCB) kịp thời và đúng đắn, giám đốc việc sử dụng vốn kiến thiết cơ bản, cụ thể là: theo dõi việc sử dụng vốn, đảm bảo vốn Nhà nước được sử dụng hợp lý, đôn đốc hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch kiến thiết cơ bản của Nhà nước, thực hiện chế độ hạch toán kinh tế, hạ thấp giá thành công trình, tiết kiệm vốn Nhà nước, quản lý tiền mặt chặt chẽ.
- Điều 2 Tất cả các công tác kiến thiết cơ bản của các xí nghiệp quốc doanh, của các xí nghiệp công tư hợp doanh và của các đơn vị sự nghiệp, của các cơ quan hành chính và đoàn thể đã được ghi trong kế hoạch kinh tế quốc dân đều do Ngân hàng kiến thiết Việt nam (dưới đây gọi tắt là NHKT), chiếu theo điều lệ này để cấp phát vốn.
- Điều 3 Tất cả những khoản thu, chi của các đơn vị kiến thiết xí nghiệp kiến trúc, lắp máy, cơ quan khảo sát thiết kế, các cơ quan khảo sát địa chất (về phần các công trình KTCB) và các xí nghiệp cung tiêu (về phần kinh doanh thuộc KTCB) đều do NHKT làm kết toán.
- Điều 4 Vốn kiến thiết cơ bản do Bộ Tài chính cấp làm nhiều lần cho NHKT trung ương. Số vốn ấy sẽ gửi vào tài khoản riêng của NHKT ở Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không tính lãi. Khi Ngân hàng Nhà nước chuyển tiền, không tính thủ tục phí.
- Chương 2: TÀI LIỆU LÀM CĂN BẢN CẤP PHÁT
- Điều 5 Tài liệu làm căn bản cấp phát gồm có:
- Điều 6 Kế hoạch kiến thiết cơ bản hàng năm của các Bộ chủ quản và các đơn vị kiến thiết gửi cho Ngân hàng kiến thiết phải theo đúng các mẫu biểu và trình tự lập và duyệt do Nhà nước quy định; kế hoạch của các đơn vị trên hạn ngạch phải được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn. Kế hoạch của các đơn vị dưới hạn ngạch phải được Bộ chủ quản phê chuẩn.
- Điều 7 Dự toán kiến thiết phải lập và duyệt theo chế độ về dự toán kiến thiết cơ bản do Nhà nước quy định. Dự toán toàn bộ của các công trình trên hạn ngạch phải được Ủy ban Kế hoạch Nhà nước phê cuẩn. Dự toán toàn bộ của các công trình dưới hạn ngạch phải được Bộ chủ quản phê chuẩn. Trường hợp chỉ lập được dự toán của một số hạng mục công trình, thì dự toán của những hạng mục công trình ấy, kể cả của những công trình trên hạn ngạch, cũng phải do Bộ chủ quản phê chuẩn.
- Điều 8 Kế hoạch cấp phát do Bộ chủ quản lập theo từng quý (mẫu số 1 kèm) và gửi cho Bộ Tài chính xét duyệt trước khi bắt đầu mỗi quý. Kế hoạch cấp phát của Bộ chủ quản phải dựa trên kế hoạch cấp phát của các đơn vị cơ sở. Bộ Tài chính xét duyệt xong sẽ lần lượt gửi kế hoạch cấp phát cho Bộ chủ quản và Ngân hàng Kiến thiết trung ương. Bộ chủ quản sẽ căn cứ vào kế hoạch cấp phát đã được xét duyệt để làm “giấy báo hạn mức cấp phát kiến thiết cơ bản” theo từng đơn vị kiến thiết (gọi tắt là giấy báo hạn mức cấp phát; mẫu số 2 kèm) và làm thành 4 bản; gửi Ngân hàng kiến thiết trung ương thẩm xét. Nếu tổng số hạn mức cấp phát của các đơn vị kiến thiết không quá kế hoạch cấp phát đã được Bộ Tài chính duyệt y cho Bộ đó, thì Ngân hàng kiến thiết trung ương sẽ ký nhận vào giấy báo hạn mức, giữ lại một bản, gửi cho Chi hàng một bản, trả lại cho Bộ chủ quản 2 bản (1 bản Bộ chủ quản sẽ gửi cho đơn vị kiến thiết). Nếu tổng số hạn mức cấp phát vượt quá kế hoạch cấp phát đã được duyệt y, thì Ngân hàng kiến thiết trung ương sẽ đề nghị Bộ chủ quản điều chỉnh lại giấy báo hạn mức của những đơn vị về phần vượt quá kế hoạch đã được duyệt. Trong khi chờ đợi, Ngân hàng kiến thiết trung ương chỉ gửi những phần hạn mức trong phạm vi kế hoạch đã được duyệt.
- Điều 9 Nếu kế hoạch và dự toán toàn bộ công trình chưa được phê chuẩn, thì tạm cấp theo dự thảo của kế hoạch và dự toán đã được cấp có thẩm quyền thẩm tra đồng ý (thao như điều lệ dự toán kiến thiết cơ bản đã quy định).
- Điều 10 Trường hợp đặc biệt, cần phải xây dựng gấp mà không có những căn cứ cấp phát như quy định ở trên, thì phải do Thủ tướng Chính phủ quyết định theo đề nghị của Ủy ban Kế hoạch.
- Điều 11 Nếu có thay đổi về nội dung của các văn kiện làm căn cứ cấp phát, thì các ngành có liên quan phải báo cáo cho Ngân hàng kiến thiết trung ương và các Chi hàng, Phòng cấp phát biết.
- Chương 3: CẤP PHÁT THEO KHỐI LƯỢNG CÔNG TRÌNH
- Điều 12 Tất cả những công trình kiến trúc đều phải được cấp phát theo phương pháp “kết toán theo khối lượng công trình”. Đối với những công trình trên hạn ngạch, nếu có trường hợp đặc biệt gặp khó khăn chưa cấp phát theo khối lượng công trình được, thì phải được sự đồng ý của Bộ Tài chính mới được tạm thời cấp phát theo thực tế trong một thời gian ngắn, sau đó phải chuyển sang cấp phát theo khối lượng công trình.
- Điều 13 Đối với các công trình cho Công ty kiến trúc hay một cơ quan một Bộ khác thầu, hay cho các đơn vị trong nội bộ một Bộ thầu, đều phải ký hợp đồng giao thầu. Phải gửi bản chính thứ hai của hợp đồng giao thầu khoán hoặc giấy giao kèo làm công trình cho Chi nhánh, Phòng cấp phát để tài liệu căn cứ cấp phát và kết toán.
- Điều 14 Đơn vị kiến thiết phải cấp phát khoản tạm ứng cho xí nghiệp kiến trúc lắp máy hay đơn vị thi công theo hợp đồng thầu khoán hàng năm để mua nguyên vật liệu xây dựng. Nếu đơn vị kiến thiết cung cấp vật liệu cho xí nghiệp kiến trúc lắp máy thì tính giá trị của vật liệu ấy vào khoản tạm ứng. Nếu xí nghiệp kiến trúc, lắp máy đã được Nhà nước cấp vốn lưu động để mua nguyên liệu, vật liệu xây dựng, thì đơn vị kiến thiết không phải cấp khoản tạm ứng.
Điều này được hướng dẫn bởi Mục II Thông tư 23-TC-NHKT-1964 có hiệu lực từ ngày 07/12/1964
- Điều 15 Khoản tạm ứng sẽ trừ dần. Cách trừ dần phải ghi rõ trong hợp đồng thầu khoán theo quy định sau đây nhằm bảo đảm số vật liệu cần thiết cho việc xây dựng.
Điều này được hướng dẫn bởi Mục II Thông tư 23-TC-NHKT-1964 có hiệu lực từ ngày 07/12/1964
- Điều 16 Những hạng mục công trình nào mà thời gian xây dựng 4 tháng trở xuống thì kết toán một lần: chậm nhất là 45 ngày sau khi làm xong và kiểm nhận xong công trình; đơn vị kiến thiết căn cứ vào dự toán đã được sửa chữa theo biểu đồ thi công, kết toán toàn bộ giá xây dựng công trình với đơn vị nhận thầu.
- Điều 17 Đối với những hạng mục công trình mà thời gian xây dựng trên 4 tháng, thì hàng tháng hoặc hàng quý phải kết toán một lần, và khi hoàn thành công trình, thì kết toán một lần cuối cùng.
- Điều 18 Chi hàng phải căn cứ vào biểu đồ thi công để cấp phát theo khối lượng công trình. Biểu đồ thi công phải bảo đảm đúng khối lượng, chất lượng ghi trong thiết kế. Nếu biểu đồ thi công do đơn vị nhận thầu làm, thì phải được đơn vị giao thầu xác nhận.
- Chương 4: CẤP PHÁT THEO THỰC TẾ
- Điều 19 Đối với những công trình kiến trúc, vì gặp khó khăn, nên tạm thời chưa cấp phát theo khối lượng công trình, thì Chi hàng và Phòng cấp phát căn cứ vào kế hoạch kiến thiết cơ bản hàng năm và dự toán kiến thiết để cấp phát cho thực tế đối với từng hạng mục phí tổn (thiết bị, vật liệu, tiền lương, chi phí khác).
- Điều 20 Đối với những công trình lắp máy cho thầu hoặc tự làm, vì gặp khó khăn, nên tạm thời chưa cấp phát theo khối lượng công trình được, thì căn cứ vào hợp đồng và dự toán mà cấp phát theo thực tế. Nhưng trước khi làm xong toàn bộ công trình, tổng số các khoản cấp phát không được quá 95tỷ lệ % giá trị của công trình lắp máy.
- Điều 21 Chi hàng và Phòng cấp phát phải căn cứ vào kế hoạch hàng quý về khảo sát thiết kế và khảo sát địa chất để cấp phát theo thực tế. Trường hợp các đoàn khảo sát, vì điều kiện công tác phải thay đổi luôn địa điểm thì Chi hàng, Phòng cấp phát có thể cấp khoản ứng trước cho đoàn khảo sát và cùng đoàn khảo sát quy định rõ thời hạn quyết toán. Nếu không kết toán đúng hạn đã định thì Chi hàng, Phòng cấp phát không ứng trước khoản khác.
- Chương 5: CẤP PHÁT ĐỂ MUA THIẾT BỊ, VẬT LIỆU, TRẢ TIỀN LƯƠNG, PHÍ TỔN QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH VÀ PHÍ TỔN VỀ KIẾN THIẾT CƠ BẢN KHÁC
- Điều 22 Khi Bộ chủ quản đặt mua thiết bị và vật liệu của nước ngoài cho các đơn vị kiến thiết (kể cả hàng viện trợ), thì phải gửi cho Ngân hàng kiến thiết bản kế hoạch đặt mua và kế hoạch nhập thiết bị và vật liệu nước ngoài (cả năm và từng quý), để làm căn cứ thẩm tra khi cấp phát.
Điều này được hướng dẫn bởi Mục I và III Thông tư 23-TC-NHKT-1964 có hiệu lực từ ngày 07/12/1964
- Điều 23 Khi đơn vị kiến thiết mua thiết bị, khí cụ, dụng cụ ở trong nước, thì Chi hàng, Phòng cấp phát căn cứ vào kế hoạch kiến thiết cơ bản hàng năm hay số lượng ghi trong dự toán kiến thiết để cấp phát theo giá quy định của Nhà nước. Nếu kế hoạch dự toán chưa được phê chuẩn, thì có thể căn cứ vào bảng kê chi tiết thiết bị, khí cụ, dụng cụ, đã được Bộ chủ quản phê chuẩn để cấp phát.
Điều này được hướng dẫn bởi Mục IV Thông tư 23-TC-NHKT-1964 có hiệu lực từ ngày 07/12/1964
- Điều 24 Khi đơn vị kiến thiết hay đơn vị nhận thầu phát tiền lương, thì Chi hàng, Phòng cấp phát sẽ cấp phát theo thực tế trong phạm vi tổng số tiền lương ghi trong dự toán hay trong kế hoạch lao động tiền lương. Số cấp phát về lương phải tương đương với khối lượng công trình làm xong. Nếu quá tổng số tiền lương ghi trong dự toán hay trong kế hoạch lao động tiền lương, thì phải được Bộ chủ quản hay Bộ nhận thầu phê chuẩn mới được cấp phát.
- Điều 25 Chi hàng, Phòng cấp phát kiến thiết cơ bản cấp phát tiền phí tổn quản lý hành chính theo nhu cầu và theo dự toán đã được phê chuẩn trong phạm vi tỷ lệ về phí tổn quản lý hành chính đã được Nhà nước quy định. Đơn vị kiến thiết và đơn vị nhận thầu phải cố gắng giảm bớt phí tổn hàng chính, giữ đúng biên chế nhân viên quản lý hành chính. Chi hàng chịu trách nhiệm theo dõi tình hình chi tiêu về khoản này.
- Điều 26 Khi đơn vị kiến thiết chi tiêu nề những khoản chi khác ngoài khoản quản lý hành chính nói trên, Chi hàng, Phòng cấp phát kiến thiết cơ bản cấp phát theo thực tế trong phạm vi dự toán và kế hoạch kiến thiết cơ bản hàng năm.
- Điều 27 Trường hợp một xí nghiệp vừa sản xuất vừa kiến thiết cơ bản, thì Chi hàng, Phòng cấp phát kết toán về tài vụ theo sự giao dịch và cung cấp những thứ cần dùng giữa hai bộ phận sản xuất và kiến thiết cơ bản.
- Điều 28 Khi đơn vị kiến thiết và đơn vị nhận thầu dùng tiền, thì phải gửi những chứng từ có liên quan (hợp đồng, hóa đơn…) cho Chi hàng, Phòng cấp phát để thẩm xét và cấp phát theo thực tế. Nếu không gửi được hóa đơn, thì Chi hàng, Phòng cấp phát có thể cấp phát trước rồi thẩm tra chừng từ sau (thẩm tra có trọng điểm).
- Chương 6: KIỂM TRA
- Điều 29 Chi hàng có nhiệm vụ kiểm tra các đơn vị kiến thiết, các xí nghiệp xây lắp, các đơn vị nhận thầu, các cơ quan khảo sát thiết kế và khảo sát địa chất và các xí nghiệp cung tiêu về các mặt sau đây:
- Điều 30 Khi có đơn vị kiến thiết, xí nghiệp xây lắp, đơn vị nhận thầu, cơ quan khảo sát thiết kế khảo sát địa chất, xí nghiệp cung tiêu không chấp hành đúng kế hoạch của Nhà nước và làm sai thiết kế, không chấp hành điều lệ kiến thiết cơ bản và các chế độ của Nhà nước, thì Chi hàng, Phòng cấp phát phải góp ý kiến đôn đốc sửa chữa.
- Chương 7: NHỮNG NGUYÊN TẮC KHÁC
- Điều 31 Đơn vị kiến thiết, cơ quan khảo sát thiết kế, khảo sát địa chất chỉ được chi tiêu trong phạm vi hạn mức cấp phát đã được xét duyệt. Hạn mức cấp phát chưa dùng trong quý có thể tiếp tục sử dụng vào quý sau. Hạn mức cấp phát quý sau không thể sử dụng trước. Nhưng nếu hoàn thành kế hoạch hàng quý trước thời hạn, do đó hạn mức cấp phát không đủ dùng, thì Chi hàng, Phòng cấp phát sẽ cấp trong phạm vi hạn mức cấp phát của quý sau. Nếu hạn mức cấp phát của quý sau chưa gửi xuống, thì Chi hàng, Phòng cấp phát có thể cho vay, khi hạn mức gửi xuống sẽ trả cho Chi hàng, Phòng cấp phát.
- Điều 32 Bộ chủ quản có quyền điều hòa hạn mức cấp phát của các đơn vị kiến thiết thuộc ngành mình trong phạm vi kế hoạch cấp phát đã được Bộ Tài chính xét duyệt: thu hồi hạn mức của nơi thừa để bù cho nơi thiếu, nhưng không được phân phối trước những hạn mức chưa thu hồi về; nếu cần phân phối trước khi thu đủ hạn mức về thì phải được Bộ Tài chính đồng ý. Khi Bộ chủ quản và Chi hàng, Phòng cấp phát xét thấy hạn mức của một đơn vị có thừa mà đơn vị không chịu trả lại, thì Bộ chủ quản có thể ủy nhiệm cho Chi hàng được trích phần thừa của hạn mức đó để trả lại Bộ chủ quản theo “giấy thu hồi hạn mức” của Bộ chủ quản.
- Điều 33 Vốn kiến thiết cơ bản và vốn sản xuất cần phải dùng khoản nào vào khoản ấy. Nếu đơn vị kiến thiết dùng vốn sản xuất vào kiến thiết cơ bản, thì Chi hàng, Phòng cấp phát không cấp phát. Nếu đơn vị kiến thiết dùng vốn kiến thiết cơ bản để xây dựng công trình ngoài kế hoạch được để làm các việc khác, thì Chi hàng, Phòng cấp phát cũng không cấp phát.
- Điều 34 Sau khi đã làm xong toàn bộ công trình, thì đơn vị nhận thầu có nhiệm vụ kết toán toàn bộ với đơn vị kiến thiết. Ban phụ trách đơn vị kiến thiết có trách nhiệm quyết toán với Chi hàng số vốn đã được cấp phát, cụ thể là:
- Điều 35 Chi hàng, Phòng cấp phát phụ trách việc theo dõi các đơn vị kiến thiết và xí nghiệp xây lắp nộp lãi và tiền khấu hao đúng thời hạn cho Nhà nước. Bộ chủ quản cấp vốn lưu động cho xí nghiệp xây lắp hoặc thu hồi vốn về điều phải thông qua Ngân hàng kiến thiết.
- Mẫu số 1 KẾ HOẠCH CẤP PHÁT KIẾN THIẾT CƠ BẢN
- Mẫu số 1- phụ TÌNH HÌNH HOÀN THÀNH KẾ HOẠCH KHỐI LƯỢNG KIẾN THIẾT CƠ BẢN VÀ DỰ TRÙ TRONG QUỸ KẾ HOẠCH CỦA BỘ (hay đơn vị kiến thiết)
- Mẫu số 2 GIẤY BÁO HẠN MỨC CẤP PHÁT VỐN KIẾN THIẾT CƠ BẢN
- Mẫu số 3 PHIẾU CÔNG TRÌNH
- Mẫu số 4 GIẤY KIỂM NHẬN GIAO TRẢ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG
- Mẫu số 5 BIÊN LAI KHOẢN TẠM CHI CỦA XÍ NGHIỆP XÂY LẮP
- Mẫu số 6 BẢNG BÁO CÁO CÔNG TRÌNH LÀM XONG HÀNG THÁNG
Nghị định số 64-CP ngày 19/11/1960 của Hội đồng Chính phủ Về điều lệ cấp phát kiến thiết cơ bản (Văn bản hết hiệu lực)
- Số hiệu văn bản: 64-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Cơ quan ban hành: Hội đồng Chính phủ
- Ngày ban hành: 19-11-1960
- Ngày có hiệu lực: 19-11-1960
- Ngày bị bãi bỏ, thay thế: 01-01-1984
- Tình trạng hiệu lực: Hết hiệu lực
- Thời gian duy trì hiệu lực: 8443 ngày (23 năm 1 tháng 18 ngày)
- Ngày hết hiệu lực: 01-01-1984
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Tiếng anh