- NGHỊ ĐỊNH QUY ĐỊNH CHẾ ĐỘ TIẾT KIỆM GỖ
- Điều 1. – Nay đặt chế độ tiết kiệm gỗ thành một kỷ luật của Nhà nước mà các cấp, các ngành phải nghiêm chỉnh chấp hành, để:
- Mục I – KHAI THÁC GỖ
Quy trình khai thác gỗ được hướng dẫn bởi Quyết định 603-BLN năm 1963 có hiệu lực từ ngày 08/09/1963
- Điều 3. – Bộ Nông lâm quy định kích thước tối thiểu được chặt đối với từng loại gỗ ở từng vùng; cùng với Bộ Nội thương nghiên cứu trình Hội đồng Chính phủ quy định giá thu mua và giá bán gỗ cho hợp lý nhằm khuyến khích khai thác toàn diện.
- Điều 4. – Cơ quan Lâm nghiệp và các tổ chức được phép khai thác gỗ phải tìm mọi cách vận chuyển và bảo quản gỗ không được để chỗ ứ đọng, mất phẩm chất ở rừng, ở ven đường hoặc ở các bến; khi nào gỗ được mang đến những địa điểm đã quy định để giao nhận mới coi là đã hoàn thành nhiệm vụ khai thác.
Điều này được hướng dẫn bởi Điểm c Khoản 2 Thông tư 161-TTg năm 1960 có hiệu lực từ ngày 09/08/1960
- Mục II – SỬ DỤNG VÀ CUNG CẤP GỖ
- Điều 5. – Sử dụng gỗ phải tiết kiệm, trường hợp có thể dùng tre hoặc các vật liệu khác thay gỗ có lợi hơn thì phải triệt để dùng các vật liệu đó thay gỗ.
- Điều 6. – Sử dụng gỗ phải hợp lý theo đúng nguyên tắc gỗ nào dùng vào việc ấy. Bản quy định tạm thời về sử dụng gỗ ban hành kèm theo Nghị định này chia loại các công việc cần gỗ và định nhóm gỗ thích hợp cho từng loại công việc. Bộ Nông lâm phối hợp với Ủy ban Khoa học Nhà nước nghiên cứu sắp xếp các loại gỗ hiện có vào từng nhóm và xác định sức chịu của từng loại để hướng dẫn việc sử dụng gỗ cho đúng, vừa đảm bảo được chất lượng của công trình kiến thiết vừa không bó hẹp vào một số gỗ quen dùng gây khó khăn cho việc cung cấp gỗ. Cơ quan kiến thiết các công trình xây dựng, các cơ sở sản xuất dùng gỗ làm nguyên liệu phải theo đúng các điều quy định nói trên mà lựa chọn loại gỗ cần thiết.
Điều này được hướng dẫn bởi Điểm d Khoản 2 Thông tư 161-TTg năm 1960 có hiệu lực từ ngày 09/08/1960
- Điều 7. – Cỡ gỗ xẻ từ nay thống nhất theo các kích thước trong bản quy định cỡ gỗ xẻ ban hành kèm theo Nghị định này. Các tổ chức cung cấp và sử dụng gỗ phải theo đúng kích thước quy định mà xẻ gỗ và thiết kế. Trường hợp thật đặc biệt cần cỡ gỗ xẻ khác thì phải được Ủy ban Kế hoạch Nhà nước đồng ý.
Điều này được hướng dẫn bởi Điểm đ Khoản 2 Thông tư 161-TTg năm 1960 có hiệu lực từ ngày 09/08/1960
- Điều 8. – Chỉ có các công trình đã ghi trong kế hoạch Nhà nước và có thiết kế được Ủy ban Kế hoạch Nhà nước duyệt mới được cung cấp gỗ. Những công trình không ghi trong kế hoạch Nhà nước, hoặc thiết kế ở nước ngoài chưa đưa về kịp, hoặc những công trình chưa được duyệt thiết kế kỹ thuật toàn bộ, mà muốn được cung cấp gỗ ngay để chuẩn bị cho kịp thì phải được Thủ tướng Chính phủ cho phép và chỉ được cung cấp dần tùy theo sự cần thiết.
Điều này được hướng dẫn bởi Điểm e Khoản 2 Thông tư 161-TTg năm 1960 có hiệu lực từ ngày 09/08/1960
- Điều 9. – Các tổ chức phụ trách cung cấp gỗ theo kế hoạch Nhà nước có trách nhiệm ký hợp đồng và cung cấp gỗ kịp thời cho các công trình nói ở điều 8, theo đúng các bản thiết kế đã được duyệt. Khi ký hợp đồng hai bên dựa trên cơ sở bản thiết kế và căn cứ vào các bản quy định tạm thời về sử dụng gỗ và cỡ gỗ xẻ mà tính toán cụ thể, ký kết cho sát với nhu cầu.
- Điều 10. – Các ngành và các Ủy ban hành chính địa phương nhất thiết không được làm sai kế hoạch cung cấp và phân phối gỗ, như lấy kế hoạch gỗ phân phối cho chỗ này dùng cho chỗ khác.
- Điều 11. – Các công trường xây dựng, các xưởng cưa, xưởng đồ mộc, xưởng chế biến, vv… không được đem bán ra ngoài, tùy tiện dùng, hoặc hủy bỏ các loại gỗ đã dùng vào các công việc tạm thời như ván cốp pha, cột đà giáo, cột chống cầu hoặc các loại gỗ thừa khác. Tổng công ty vật liệu xây dựng thuộc Bộ Nội thương có trách nhiệm thống nhất thu mua và có kế hoạch chế biến, phân phối, sử dụng hợp lý các loại gỗ đó.
- Mục III. – BẢO QUẢN GỖ
- Điều 12. – Các tổ chức khai thác, cung cấp, sử dụng gỗ đều phải bảo quản gỗ bằng mọi phương tiện và phương pháp thích hợp từ khi mới chặt hạ cho đến khi xây lắp để tránh hoặc hạn chế sự hư hỏng gỗ do thời tiết và sâu, nấm, mối, mọt gây nên. Việc bảo quản phải làm theo bản quy định tạm thời về bảo quản gỗ kèm theo Nghị định này.
- Điều 13. – Bộ Nông lâm có trách nhiệm hướng dẫn và cùng các ngành có liên quan nghiên cứu quy định về ngâm, tẩm gỗ bằng hóa chất để trình Thủ tướng Chính phủ duyệt và ban hành.
- Mục IV. – THƯỞNG PHẠT
- Điều 14. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân gương mẫu trong việc chấp hành chế độ tiết kiệm có nhiều sáng kiến, nhiều thành tích sẽ được khen thưởng; tùy từng trường hợp có thể được tuyên dương, được giải thưởng, bằng khen, hoặc huân chương.
Điều này được hướng dẫn bởi Điểm i Khoản 2 Thông tư 161-TTg năm 1960 có hiệu lực từ ngày 09/08/1960
- Điều 15. – Ủy ban thanh tra Trung ương của Chính phủ và các Ban Thanh tra các cấp có trách nhiệm kiểm tra việc chấp hành chế độ tiết kiệm gỗ.
Điều này được hướng dẫn bởi Điểm h Khoản 2 Thông tư 161-TTg năm 1960 có hiệu lực từ ngày 09/08/1960
- Điều 16. – Các quy định trước trái với Nghị định này đều bãi bỏ.
- QUY ĐỊNH TẠM THỜI VỀ SỬ DỤNG GỖ
- I. GỖ LÀM NHÀ
- II. GỖ ĐÓNG TÀU, THUYỀN, PHÀ.
- III. GỖ CÔNG TRÌNH THỦY LỢI, CẦU CỐNG, GIAO THÔNG VẬN TẢI
- IV. GỖ CÔNG NGHIỆP VÀ TIỂU THỦ CÔNG NGHỆP
- V. GỖ NÔNG CỤ VÀ NGƯ CỤ
- QUY ĐỊNH TẠM THỜI CÁC CỠ GỖ XẺ DÙNG TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG NHÀ CỬA
- QUY ĐỊNH TẠM THỜI VỀ BẢO QUẢN GỖ TRÁNH MỌT, MỤC, NỨT, NẺ
- I. BẢO QUẢN GỖ CÂY TRƯỚC KHI XẺ
- II. BẢO QUẢN GỖ XẺ TRƯỚC KHI XÂY DỰNG
- III. BẢO QUẢN CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG
Nghị định số 10-CP ngày 26/04/1960 của Hội đồng Chính phủ Quy định chế độ tiết kiệm gỗ (Tình trạng hiệu lực không xác định)
- Số hiệu văn bản: 10-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Cơ quan ban hành: Hội đồng Chính phủ
- Ngày ban hành: 26-04-1960
- Ngày có hiệu lực: 11-05-1960
- Tình trạng hiệu lực: Không xác định
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Tiếng anh