- NGHỊ ĐỊNH BAN HÀNH ĐIỀU LỆ HẢI QUAN
- Điều 1. Để đảm bảo thực hiện chính sách quản lý ngoại thương, quản lý ngoại hối của Việt nam dân chủ cộng hòa, góp phần phục vụ đường lối ngoại giao, bảo vệ tài sản của Nhà nước, nay ban hành bản điều lệ hải quan kèm theo Nghị định này.
- Điều 2. Những quy định cũ trái với điều lệ này đều bãi bỏ.
- Điều 3. Ông Bộ trưởng Bộ Ngoại thương chịu trách nhiệm giải thích và quy định chi tiết thi hành điều lệ này.
- Điều 4. Điều lệ này thi hành kể từ ngày 1 tháng 3 năm 1960.
- ĐIỀU LỆ HẢI QUAN
- Chương 1: NGUYÊN TẮC CHUNG
- Điều 1. - Tất cả hàng hóa, hành lý, tiền tệ, kim khí quý, đá quý, ngọc trai, bưu phẩm, bưu kiện khi xuất hay nhập khẩu, và tất cả công cụ vận tải khi xuất hay nhập cảnh, đều phải khai báo và chịu sự giám sát, quản lý của cơ quan Hải quan theo những quy định trong điều này.
Điều này được hướng dẫn bởi Mục I Thông tư 86-BNT/HQ năm 1961 có hiệu lực từ ngày 05/12/1961
- Chương 2: NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA CƠ QUAN HẢI QUAN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN CÓ LIÊN QUAN
Chương này được hướng dẫn bởi Mục II Thông tư 51-TTg năm 1960 có hiệu lực từ ngày 13/03/1960
- Điều 2. - Để đảm bảo thực hiện đúng chính sách quản lý ngoại thương, quản lý ngoại hối của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, cơ quan Hải quan có nhiệm vụ:
- Điều 3. - Để ngăn ngừa và chống buôn lậu, cơ quan hải quan có quyền khám người, công cụ vận tải, nhà ở.
- Điều 4. – Cơ quan Hải quan có quyền tạm giữ hàng phạm pháp, công cụ vận tải chuyên chở hàng phạm pháp, tang vật che giấu hàng phạm pháp.
- Điều 5. - Dưới sự lãnh đạo của Ủy ban hành chính địa phương, cơ quan Hải quan xử lý các vụ phạm pháp về hải quan.
- Điều 6. – Trong khi thi hành nhiệm vụ, nhân viên hải quan phải mặc trang phục hải quan, đeo phù hiệu, mang giấy chứng minh và có thể được mang vũ khí để tự vệ.
Điều này được hướng dẫn bởi Mục III Thông tư 86-BNT/HQ năm 1961 có hiệu lực từ ngày 05/12/1961
- Điều 7. - Ở những bến tàu, nhà ga, bưu cục ngoại dịch có đặt tổ chức Hải quan, các ngành sở quan có nhiệm vụ hợp tác và giúp đỡ phương tiện cần thiết cho cơ quan Hải quan.
Điều này được hướng dẫn bởi Thông tư liên bộ 69-LB năm 1961 có hiệu lực từ ngày 05/10/1961
- Điều 8. – Các đơn vị công an vũ trang và dân quân tự vệ có trách nhiệm giúp đỡ cơ quan Hải quan làm tròn nhiệm vụ trong những trường hợp đặc biệt cần dùng lực lượng vũ trang.
- Chương 3: GIÁM SÁT, QUẢN LÝ CÔNG CỤ VẬN TẢI XUẤT NHẬP CẢNH VÀ HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU
- Mục 1. Giám sát, quản lý công cụ vận tải xuất nhập cảnh.
Mục này được hướng dẫn bởi Phần A Mục II Thông tư 86-BNT/HQ năm 1961 có hiệu lực từ ngày 05/12/1961
- Điều 9. – Công cụ vận tải, khi xuất hay nhập cảnh, phải qua những cửa khẩu có tổ chức Hải quan, phải đi theo những đường nhất định do Bộ Ngoại thương quy định.
- Điều 10. – Khi tàu, thuyền đi lại trong phạm vi hải phận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhân viên hải quan có quyền lên tàu, thuyền để kiểm soát, thuyền trưởng hay người thay mặt phải xuất trình những giấy tờ cần thiết liên quan đến việc xuất nhập khẩu theo yêu cầu của nhân viên hải quan; thuyền trưởng hay người thay mặt không được tự tiện cho bốc dỡ hàng hóa lên xuống, sửa chữa những giấy tờ đã có chữ ký của nhân viên hải quan.
- Điều 11. – Sau khi công cụ vận tải nhập cảnh tới cửa khẩu đầu tiên và trước khi công cụ vận tải xuất cảnh qua cửa khẩu cuối cùng, người phụ trách công cụ vận tải hay người thay mặt phải nộp ngay cho cơ quan Hải quan ở cửa khẩu những giấy tờ cần thiết do Bộ Ngoại thương quy định; đối với tàu, thuyền nhập cảnh, thuyền trưởng hay người thay mặt có thể nộp các giấy tờ nói trên trong khoản thời gian hai mươi bốn giờ (24 giờ), kể từ khi tàu, thuyền cập bến.
- Điều 12. – Nhân viên hải quan phải kiểm soát công cụ vận tải và hàng hóa chuyên chở trên công cụ vận tải xuất nhập cảnh trước mặt người phụ trách công cụ vận tải hay người thay mặt.
- Điều 13. - Việc bốc dỡ hàng hóa, hành lý lên xuống công cụ vận tải xuất nhập cảnh phải được cơ quan Hải quan cho phép và phải có nhân viên hải quan giám sát. Đối với xe lửa liên vận, trường hợp ở xa cửa khẩu, nhân viên đường sắt có thể chuyển hàng hóa từ toa này sang toa khác hay cắt toa để lại, rồi báo cáo sau với cơ quan Hải quan; nhưng phải làm thủ tục niêm phong và ghi vào giấy gửi hàng ngày, giờ, địa điểm, lý do chuyển toa, cắt toa.
- Điều 14. – Công cụ vận tải nhập cảnh chỉ được khởi hành từ cửa khẩu đầu tiên vào trong nước và công cụ vận tải xuất cảnh chỉ được khởi hành từ cửa khẩu cuối cùng ra nước ngoài sau khi đã làm xong thủ tục hải quan.
- Điều 15. - Đối với nhiên vật liệu cần thiết cho công cụ vận tải nhập cảnh, lương thực cần thiết cho nhân viên phục vụ trên công cụ vận tải và hành khách, cơ quan Hải quan phải ấn định số lượng đủ dùng trong thời gian công cụ vận tải đậu lại, niêm phong số còn lại nếu xét cần.
- Điều 16. - Nếu vì muốn tránh tai nạn hay vì gặp tai nạn mà công cụ vận tải xuất nhập cảnh phải đậu lại ở một nơi không có tổ chức Hải quan, người phụ trách công cụ vận tải hay người thay mặt phải báo ngay cho Ủy ban hành chính địa phương để tổ chức giám sát. Người phụ trách công cụ vận tải hay người thay mặt không được Ủy ban hành chính địa phương cho phép; trường hợp cấp bách, để hạn chế thiệt hại về người và của, người phụ trách công tác vận tải hay người thay mặt cũng có thể cho bốc dỡ hàng hóa và hành lý, nhưng đồng thời phải báo cáo với Ủy ban hành chính địa phương.
- Mục 2. Giám sát, quản lý hàng hóa mậu dịch xuất nhập khẩu.
Mục này được hướng dẫn bởi Phần B Mục II Thông tư 86-BNT/HQ năm 1961 có hiệu lực từ ngày 05/12/1961
- Điều 17. – Các tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu có nhiệm vụ xuất hàng, nhập hàng theo đúng hợp đồng đã ký kết và giấy phép xuất nhập hàng.
- Điều 18. – Cơ quan Hải quan có nhiệm vụ báo cho cơ quan sở quan biết những thiếu sót về bốc dỡ, chuyển vận, sắp xếp, bảo quản hàng hóa xuất nhập khẩu để cơ quan sở quan kịp thời có biện pháp ngăn ngừa thiệt hại có thể xảy ra.
- Điều 19. – Ngay sau khi hàng hóa xuất khẩu hay nhập khẩu tới cửa khẩu, tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu phải:
- Điều 20. – Nơi, ngày, giờ và phương pháp kiểm hóa do Bộ Ngoại thương quy định.
- Điều 21. – Hàng hóa xuất nhập khẩu chịu thuế xuất nhập khẩu theo thuế biểu áp dụng trong ngày đăng ký tờ khai.
- Điều 22. - Hàng hóa xuất nhập khẩu được miễn hay giảm thuế xuất nhập khẩu trong những trường hợp sau đây:
- Mục 3. Giám sát, quản lý hàng phi mậu dịch xuất nhập khẩu.
- Điều 23. – Người có hàng phi mậu dịch xuất nhập khẩu (hành lý, quà biếu, mẫu hàng, vv…) phải khai báo với cơ quan Hải quan và làm thủ tục hải quan.
- Điều 24. - Mẫu hàng hay vật phẩm quảng cáo xuất nhập khẩu phải được Sở Hải quan Trung ương cho phép.
- Điều 25. – Hàng xuất nhập khẩu để triển lãm phải được Bộ Ngoại thương cho phép.
- Điều 26. – Quà biếu xuất nhập khẩu trị giá dưới mức do Thủ tướng Chính phủ ấn định thì không phải xin phép và được miễn thuế; nếu trị giá cao hơn mức do Thủ tướng Chính phủ ấn định, thì phải được Sở Hải quan Trung ương cho phép và phải chịu thuế.
- Điều 27. – Hành lý của hành khách xuất nhập cảnh, nếu là đồ dùng cá nhân của hành khách và gia đình cùng đi theo, được miễn giấy phép và miễn thuế.
- Điều 28. - Việc di chuyển tài sản bằng hàng hóa từ ngoài nước về hoặc từ trong nước ra phải được Bộ Ngoại thương cho phép.
- Mục 4. Giám sát, quản lý bưu phẩm, bưu kiện xuất nhập khẩu.
- Điều 29. – Bưu phẩm, bưu kiện xuất nhập khẩu phải qua các Bưu cục ngoại dịch có tổ chức Hải quan.
- Điều 30. – Nhân viên hải quan chỉ được mở bưu phẩm, bưu kiện xuất nhập khẩu trước mặt nhân viên bưu điện.
- Điều 31. – Hàng hóa và vật phẩm cấm xuất nhập khẩu gửi dưới hình thức bưu phẩm, bưu kiện, cơ quan Hải quan có thể tịch thu.
- Chương 4: CÁC CHẾ ĐỘ RIÊNG
- Mục 1. Chế độ tạm xuất, tạm nhập hàng hóa.
- Điều 32. – Hàng hóa tạm xuất, tạm nhập phải được Bộ Ngoại thương cho phép và phải chịu sự giám sát của cơ quan Hải quan.
- Mục 2. Chế độ miễn khám.
- Điều 33. - Những người sau đây, mỗi khi xuất, nhập cảnh, được hưởng chế độ miễn khám về hành lý:
- Điều 34. - Những túi thư ngoại giao của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, và những túi thư ngoại giao của những nước đã công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được miễn khám, nếu có đầy đủ dấu hiệu, niêm phong và giấy chứng nhận của cơ quan ngoại giao gửi túi thư ấy.
- Điều 35. - Nếu chưa có lệnh của Giám đốc Sở Hải quan Trung ương, cơ quan Hải quan có quyền kiểm soát hành lý và túi thư ngoại giao quy định ở các điều 33 và 34 trên đây.
- Mục 3. Hàng hóa thông qua và quá cảnh.
- Điều 36. – Hàng hóa từ một nước ngoài qua nước Việt Nam dân chủ cộng hòa để chuyển về nước đó (hàng thông qua), hoặc để chuyển sang nước thứ ba (hàng quá cảnh) phải được Bộ Ngoại thương cho phép và chịu sự giám sát của cơ quan Hải quan.
- Điều 37. – Hàng hóa thông qua, quá cảnh phải chuyển vận theo đường đi và qua những cửa khẩu do Bộ Ngoại thương quy định.
- Điều 38. – Hàng hóa thông qua, quá cảnh được miễn thuế xuất nhập khẩu, nhưng phải nộp thủ tục phí hải quan.
- Mục 4. Hàng hóa xuất nhập khẩu trôi dạt và hàng hóa do công cụ vận tải xuất nhập cảnh bị tai nạn vứt bỏ.
- Điều 39. - Nếu phát hiện có hàng hóa xuất nhập khẩu trôi dạt, hoặc hàng hóa do công cụ vận tải xuất nhập cảnh bị tai nạn vứt bỏ, Ủy ban hành chính địa phương có trách nhiệm tổ chức thu nhặt, bảo quản, đồng thời báo cho cơ quan Hải quan nơi gần nhất đến làm thủ tục hải quan. Sau khi làm xong thủ tục hải quan và thanh toán mọi phí tổn, chủ hàng được nhận hàng.
- Chương 5: THƯỞNG, PHẠT
Chương này được hướng dẫn bởi Mục III Thông tư 51-TTg năm 1960 có hiệu lực từ ngày 13/03/1960
- Điều 40. - Nguyên tắc xử lý các vụ phạm pháp về hải quan quy định như sau:
- Điều 41. - Thẩm quyền xử lý các vụ phạm pháp về hải quan thuộc các cấp sau đây:
- Điều 42. – Sau khi cơ quan Hải quan xử lý, người phạm pháp có quyền khiếu nại. Các đơn khiếu nại cần được các cơ quan có trách nhiệm giải quyết nhanh chóng. Nhưng trong khi chờ đợi giải quyết, người phạm pháp vẫn phải chấp hành quyết định xử lý của cơ quan Hải quan.
- Điều 43. - Những người có công tố giác, giúp đỡ cơ quan Hải quan trong việc tìm ra những vụ phạm pháp, tùy theo tính chất quan trọng của từng vụ, có thể được tuyên dương, cấp giấy khen, bằng khen, huân chương theo chế độ chung về khen thưởng.
Nghị định số 03-CP ngày 27/02/1960 của Hội đồng Chính phủ Về điều lệ hải quan (Văn bản hết hiệu lực)
- Số hiệu văn bản: 03-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Cơ quan ban hành: Hội đồng Chính phủ
- Ngày ban hành: 27-02-1960
- Ngày có hiệu lực: 01-03-1960
- Tình trạng hiệu lực: Hết hiệu lực
- Ngày hết hiệu lực: 00/00/0000
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Tiếng anh