- NGHỊ ĐỊNH CHO PHÉP NGÂN HÀNG QUỐC GIA PHÁT HÀNH TIỀN MỚI, THAY ĐỔI TIỀN ĐANG LƯU HÀNH
- Điều 1. – Ngân hàng quốc gia Việt Nam được phép phát hành tiền mới thay đổi tiền đang lưu hành.
- Điều 4. – Việc thu đổi phải nhằm phương châm: nhanh, gọn, tốt, để thuận tiện cho việc làm ăn của nhân dân và cho việc ổn định thị trường.
- Điều 5. – Để khỏi ảnh hưởng đến lưu thông tiền tệ trên thị trường và sinh hoạt của nhân dân, nhưng đồng thời phải ngăn chặn được những hành động đầu cơ, tung tiền tích trữ hàng hóa, các loại giấy bạc Ngân hàng cũ 5.000 đ, 1.000 đ, 500 đ và 200 đ được song song lưu hành với tiền Ngân hàng mới trong một thời gian rất ngắn. Sau khi đình chỉ lưu hành, sẽ tiếp tục thu đổi hết trong thời gian do chính quyền và Ban thu đổi địa phương quy định tùy theo tình hình cụ thể của địa phương, nhưng không được quá 3 ngày ở thành thị, 7 ngày ở nông thôn và 20 ngày ở miền xa xôi.
- Điều 6. – Ngân hàng quốc gia Việt Nam được ủy nhiệm tổ chức việc thu đổi giấy bạc Ngân hàng cũ đang lưu hành.
- Điều 7. – Việc thu đổi giấy bạc Ngân hàng cũ cho nhân dân tiến hành ở thành thị theo hộ khẩu và ở nông thôn theo nông hộ, trừ những trường hợp đặc biệt nói ở điều 10 của nghị định này.
- Điều 8. – Mỗi hộ chỉ được đổi tiền của mình và không được nhận tiền của hộ khác để đổi thay. Ai làm trái điều này coi là phạm pháp và sẽ bị xử lý tùy theo trường hợp nặng nhẹ đối với người nhờ đổi cũng như người đổi thay.
- Điều 9. – Để thu đổi được nhanh và gọn, mỗi hộ được đổi ngay bằng tiền mặt đến mức 2 triệu đồng tiền Ngân hàng cũ, số tiền còn lại thì trả bằng séc Ngân hàng.
- Điều 10. – Các cá nhân và gia đình cán bộ, nhân viên trong các đơn vị bộ đội, các hộ tập thể của cơ quan, đoàn thể, xí nghiệp, nông trường quốc doanh, công trường xây dựng của Nhà nước, các cán bộ, nhân viên ở cơ quan, đoàn thể, xí nghiệp, v.v… tham gia lao động tại các công trường xây dựng của Nhà nước, các dân công công trường ở xa gia đình, quê quán, phải tập hợp tiền mặt của mình cho Công đoàn hoặc Ban quản trị đem đi đổi tại Chi nhánh hay Chi điếm Ngân hàng quốc gia Việt Nam. Công đoàn hay Ban quản trị phải lập danh sách ghi số tiền của mỗi cá nhân, mỗi gia đình nếu ở chung, gửi cho Ngân hàng một bản.
- Điều 11. – Các bạn Hoa kiều buôn bán làm ăn ở Việt Nam, ở khu phố, địa phương nào thì đổi tiền Ngân hàng cũ tài Bàn đổi tiền thiết lập ở khu phố, địa phương đó, theo như những điều quy định cho công dân Việt Nam.
- Điều 12. – Các cơ quan Ngoại giao nước ngoài, cơ quan Đại diện nước Pháp, Phân ban và Tổ kiểm soát quốc tế có tổ chức và nhân viên giúp việc ở đâu thì do Bàn đổi tiền lưu động đến tận nơi thu đổi.
- Điều 13. – Các ngoại kiều không phải nhân viên giúp việc của các cơ quan, tổ chức ngoại giao cư trú ở nước Việt Nam dân chủ cộng hòa sẽ đổi tiền tại cơ quan Ngân hàng quốc gia Việt Nam ở nơi mình cư trú. Khi đem tiền đến đổi, phải mang theo giấy phép được cư trú ở nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
- Điều 14. – Những cán bộ, nhân viên đi công tác xa, không thể đổi tiền cùng với hộ khẩu gia đình hoặc hộ khẩu tập thể trước thời hạn đình chỉ lưu hành, thì được phép đến cơ quan Ngân hàng địa phương mình đến công tác để đổi tiền cũ lấy tiền mới chi dùng. Khi đổi tiền, phải xuất trình giấy tờ công tác của mình cho Ngân hàng kiểm soát.
- Điều 15. – Những người đi công tác hay làm ăn xa vắng có tiền cất riêng ở nhà mà không có điều kiện lấy đổi kịp, thì phải báo cáo số tiền đó cho cơ quan chính quyền hay Ngân hàng nơi mình công tác hay làm ăn gần nhất biết rõ để cấp giấy chứng nhận. Khi trở về, phải đến ngay cơ quan Ngân hàng trình giấy chứng nhận để đổi.
- Điều 16. – Những người có tiền tiết kiệm gửi ở Ngân hàng được tự do rút ra tùy theo nhu cầu chi dùng của mình. Tiền tiết kiệm rút ra không tính vào mức đổi tiền mặt nói ở điều 9.
- Điều 17. Trong thời gian chưa đình chỉ lưu hành các loại giấy bạc 5.000 đ, 1.000 đ, 500 đ và 200 đ, các cơ quan thu thuế, các cửa hàng bán lẻ của Mậu dịch quốc doanh, Hợp tác xã mua bán, các tổ chức du hí văn hóa (chiếu bóng, rạp hát, thể dục thể thao, hòa nhạc v.v…) của Nhà nước, các cửa hàng bán sách báo quốc doanh, các tổ chức bưu điện, vận tải đường sắt, đường ô tô, đường thủy, đường hàng không và các tổ chức khác của Nhà nước có thu nhập bằng tiền mặt, được thu nhận tiền Ngân hàng cũ, nhưng nhất thiết không được đưa ra chi dùng, phải đem toàn bộ số thu bằng tiền cũ nộp vào Ngân hàng.
- Điều 18. – Kể từ ngày bắt đầu phát hành tiền Ngân hàng mới và thay đổi đơn vị tiền tệ, các sổ sách kế toán phải ghi theo đơn vị tiền mới. Các giá hàng, giá vé, giá cước phí, thuế suất v.v… đều phải ghi bằng tiền mới. Các khế ước trong nhân dân và giữa nhân dân với Nhà nước, các hợp đồng giữa các cơ quan, xí nghiệp Nhà nước với nhau, giữa nhân dân với cơ quan, xí nghiệp Nhà nước, hoặc giữa nhân dân với nhau, lập theo đơn vị tiền cũ đều phải chuyển sang đơn vị tiền mới.
- Điều 19. – Hết thời hạn thu đổi, các loại giấy bạc Ngân hàng cũ đã thu đổi phải tập trung tại các Chi nhánh Ngân hàng để kiểm kê, thống kê rồi tiêu hủy. Việc tiêu hủy sẽ do Ngân hàng quốc gia Việt Nam phụ trách và phải làm dưới sự kiểm soát của một Hội đồng do Chủ tịch Ủy ban Hành chính thành, tỉnh khu tự trị quyết định thành lập, và phải lập biên bản gửi cho Ngân hàng quốc gia Việt Nam Trung ương.
- Điều 20. – Mục đích, ý nghĩa và lợi ích của việc phát hành tiền mới, thay đổi đơn vị tiền tệ và thu đổi tiền cũ cần phải được toàn thể nhân dân hiểu rõ để tích cực tham gia thực hiện, đồng thời phải vận động nhân dân gửi tiền nhàn rỗi vào quỹ tiết kiệm hoặc quỹ tiền gửi ở Ngân hàng, để tăng cường vốn cho Nhà nước xây dựng và phát triển kinh tế quốc dân, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội.
- Điều 21. – Mọi hoạt động phá hoại, phản tuyên truyền gieo rắc hoài nghi trong nhân dân đều là những hành động phạm pháp, phải truy tố trước pháp luật.
- Điều 22. – Toàn thể nhân dân cần biểu thị lòng yêu nước nồng nàn và tin tưởng sâu sắc của mình đối với sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ bằng cách chấp hành triệt để mọi chủ trương, chính sách, thể lệ của Nhà nước và tích cực tham gia vào việc thu đổi tiền Ngân hàng cũ, bảo đảm trật tự, và tỉnh táo đề phòng bọn phá hoại, đấu tranh chống mọi hành động đầu cơ tích trữ, gây khó khăn cho việc ổn định thị trường, vật giá, tiền tệ, cho việc phát triển sản xuất và cho việc cải thiện đời sống nhân dân.
- Điều 23. – Trong lúc thu đổi, phải tăng cường quản lý thị trường và ổn định vật giá, ngăn chặn những hoạt động đầu cơ tích trữ, và chuẩn bị đầy đủ hàng hóa để cung ứng kịp thời cho nhân dân, đồng thời đảm bảo trật tự cho công tác phát hành tiền mới, thu đổi tiền cũ.
- Điều 24. – Ngân hàng quốc gia Việt Nam, Bộ Tài chính, Bộ Nội thương, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Viện Công tố, Tòa án tối cao, Bộ Văn hóa và các Ủy ban hành chính các cấp chịu trách nhiệm thi hành nghị định này.
Nghị định số 095-TTg ngày 27/02/1959 của Chính phủ Về việc cho phép Ngân hàng quốc gia phát hành tiền mới, thay đổi tiền đang lưu hành (Tình trạng hiệu lực không xác định)
- Số hiệu văn bản: 095-TTg
- Loại văn bản: Nghị định
- Cơ quan ban hành: Thủ tướng Chính phủ
- Ngày ban hành: 27-02-1959
- Ngày có hiệu lực: 14-03-1959
- Tình trạng hiệu lực: Không xác định
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Tiếng anh