- NGHỊ ĐỊNH BAN HÀNH BẢN ĐIỀU LỆ VỀ TÀU BUÔN RA VÀO CÁC CẢNG CỦA NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
- Điều 1. - Nay ban hành bản điều lệ về tầu buôn ra vào các Cảng của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa kèm theo nghị định này.
- Điều 2. - Tất cả những điều khoản cũ trái với thể lệ này đều bãi bỏ.
- Điều 3. - Các Ủy ban Hành chính các Khu Hồng Quảng, Khu 4 và thành phố Hải Phòng và các ông Chánh văn phòng Bộ Giao thông và Bưu điện, Giám đốc Cục đường thủy, chịu trách nhiệm thi hành nghị định này.
- THỂ LỆ VỀ TẦU BUÔN RA VÀO CÁC CẢNG CỦA NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
- Chương 1: NGUYÊN TẮC CHUNG
- Điều 1. - Tàu buôn dù là tàu Việt Nam hay tàu ngoại quốc chỉ được ra vào những cảng sau đây đã mở cho sự thông thương với Quốc tế.
Điều này được sửa đổi bởi Điều 1 Nghị định 58-NĐ năm 1958 có hiệu lực từ ngày 15/09/1958
- Điều 2. - Tàu buôn ngoại quốc muốn vào những cảng quy định ở điều 1 trên phải xin phép trước. Tàu được phép vào cảng phải tôn trọng nội quy của cảng, chấp hành những thể lệ về kiểm tra kiểm tra của các ngành Công an, Hải quan, Y tế và tôn trọng pháp luật của nước Việt Nam dân chủ công hòa.
- Điều 3. - Về mọi việc giấy tờ, thủ tục, thuê mướn nhân công, mua nhiên liệu, lương thực, sửa chữa tàu, v.v… tàu ngoại quốc không được trực tiếp làm mà bắt buộc phải qua Công ty đại lý tàu biển Việt Nam như đã quy định ở điều 3 của bản thể lệ tạm thời về công tác đại lý của Công ty đại lý tàu biển Việt Nam.
- Chương 2: THỦ TỤC VỀ TÀU RA VÀO CẢNG
- Điều 4. - Đơn xin phép cho tàu ngoại quốc vào cảng phải do Công ty đại lý tàu biển Việt Nam gửi trước một tuần lễ đên Bộ Giao thông và Bưu điện của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trong đơn phải ghi rõ: tên, quốc tịch và những đặc điểm của tàu, số thuyền viên và hành khách, số lượng hàng chuyên chở, tên cảng cuối cùng ở ngoại quốc tàu sẽ khởi hành để đi đến Việt Nam, ngay khởi hành ở cảng đó và ngày dự định tàu sẽ đến cảng Việt Nam.
- Điều 5. - Sau khi tàu đã được phép vào cảng, công ty đại lý phải báo cho Cảng vụ biết ngày tàu khởi hành ở cảng cuối cùng để đi đến cảng Việt Nam và giờ tàu đến địa điểm đón hoa tiêu. Giờ chính xác tàu đến còn phải báo hai lần nữa, một lần 48 tiếng đồng hồ và một lần 24 tiếng đồng hồ trước giờ tàu đến.
Điều này được sửa đổi bởi Điều 1 Nghị định 58-NĐ năm 1958 có hiệu lực từ ngày 15/09/1958
- Điều 6. - Khi tàu đã cặp bến, Công ty đại lý tàu biển phải nộp và xuất trình cho Cảng vụ những giấy tờ sau đây, ngoài những giấy tờ đã nộp cho Công an, Hải quan và Y tế.
- Điều 7. - Tàu muốn rời cảng thì thuyền trưởng (nếu là tàu Việt Nam) Công ty đại lý tàu biển Việt Nam (nếu là tàu ngoại quốc) phải nộp cho Cảng vụ những giấy tờ sau đây:
- Điều 8. - Trong những trường hợp dưới đây Cảng vụ có quyền hoãn việc cấp giấy phép rời bến:
- Chương 3: HOA TIÊU
- Điều 9. - Tàu buôn ngoại quốc bất luận lớn nhỏ, tàu của Việt Nam dung lượng toàn phần từ 250 tonnơ trở lên, ra vào các cảng ghi ở điều 1 trên hay di chuyển trong phạm vi những cảng đó, đều bắt buộc phải có hoa tiêu dẫn tàu.
- Điều 10. - Tàu đã được phép vào ba cảng Hải Phòng, Hòn Gay và Cẩm Phả phải đến lấy hoa tiêu ở Phao O (kinh tuyến 106056’30’Đông, vĩ tuyến 20042’ Bắc). Tàu được phép vào cảng Bến thủy phải lấy hoa tiêu ở Hòn Ngư (kinh tuyến 105046’ Đông, vĩ tuyến 18048 Bắc).
- Điều 11. - Tàu đến địa điểm lấy hoa tiêu trước thì được dẫn vào cảng trước, tàu đến sau dẫn vào sau. Trường hợp nhiều tầu cùng đến một lúc thì ưu tiên giành cho những tàu dưới đây:
- Điều 12. - Hoa tiêu chỉ coi như đã làm xong nhiệm vụ khi tàu đã buộc vào câu hay vào phao hoặc đã neo xong hay đã ra khỏi khu vực dẫn tàu.
- Điều 13. - Thuyền trưởng có trách nhiệm:
- Điều 14. - Nếu hoa tiêu phải chờ đợi lâu trên tàu, thuyền trưởng phải bảo đảm ăn, ngủ cho hoa tiêu.
- Điều 15. - Trong khi hoa tiêu dẫn tàu, thuyền trưởng vẫn phải chú ý và chịu trách nhiệm về an toàn của tàu. Nếu thấy hoa tiêu lầm lỗi, có thể nguy hại đến tàu, thuyền trưởng có quyền đình chỉ công việc của hoa tiêu, thi hành những biện pháp cần thiết để bảo đảm an toàn của tàu và xin hoa tiêu khác.
- Chương 4: QUY TẮC VIỆC TÀU ĐI LẠI VÀ ĐẬU TRONG CẢNG
- Điều 16. - Ngay khi tới hải phận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và suốt trong thời gian đậu ở cảng, tàu ngoại quốc phải kéo cờ quốc tịch.
- Điều 17. - Tàu buôn cặp bến, rời bến hoặc di chuyển trong phạm vi cảng bắt buộc phải thuê tàu kéo của Cảng vụ hỗ trợ mình trong khi điều động để bảo đảm an toàn cho tàu và cho thiết bị của cảng.
- Điều 18. - Tàu vào cảng phải đậu ở cầu hay phao theo sự chỉ định của Cảng vụ. Nếu cần thiết, Cảng vụ có quyền ra lệnh cho tàu thay đổi cầu hay phao đậu, tàu phải tuân theo và chịu mọi khoản phí tổn di chuyển.
- Điều 19. - Trong phạm vi cảng, tàu không được đi quá tốc độ đã hạn định. Mọi sự di chuyển phải đình chỉ nếu có bão hoặc mưa to, có sương mù không trông rõ đường.
- Điều 20. - Tàu phải có đủ thiết bị cứu hỏa và phải chú ý đề phòng hỏa hoạn. Nếu có tàu phát hỏa, Cảng vụ chỉ huy việc cứu chữa và có quyền huy động, sử dụng phương tiện của tất cả các tàu đang đậu ở trong cảng. Tùy theo trường hợp tàu bị hỏa hoạn hay tàu gây ra hỏa hoạn phải chịu một phần hay tất cả các khoản phí tổn về việc cứu hỏa và các khoản thiệt hại do hỏa hoạn gây ra.
- Điều 21. - Tàu chở chất nổ, chất bắt lửa phải tuyệt đối thi hành những biện pháp bảo đảm an toàn do Cảng vụ đề ra và phải treo tín hiệu suốt ngày đêm.
- Điều 22. - Tàu đậu trong cảng phải giữ vệ sinh chung, không được đổ tro than. Rác rưởi, dầu cặn lên cầu tàu hay xuống nước.
- Điều 23. - Bất cứ lúc nào tàu cũng phải có đủ số thuyền viên cần thiết thường trực trên tàu để khi cần đến có thể thi hành những lệnh của Cảng vụ như buộc thêm giây, rời chỗ đậu .v.v…
- Điều 24. - Tàu đậu ở cảng và đi lại trong hải phận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa phải theo đúng quy định quốc tế về âm hiệu và tín hiệu hàng hải.
- Chương 5: ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
- Điều 25. - Dựa trên tinh thần bản điều lệ này, mỗi cảng sẽ căn cứ vào tình hình cụ thể mà xây dựng bản nội quy riêng cho cảng. Nội quy phải được Bộ Giao thông và Bưu điện duyệt và phải công bố cho tất cả mọi người sử dụng cảng biết.
- Điều 26. - Tàu buôn ra vào các cảng của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, bất luận là tàu Việt Nam hay tàu ngoại quốc đều phải nghiêm chỉnh chấp hành thể lệ này.
- Điều 27. - Đối với những vụ vi phạm thể lệ và nội quy của cảng, các ông Giám đốc, Phó Giám đốc cảng và những cán bộ được các ông ấy ủy nhiệm có quyền lập biên bản và xử lý…
Nghị định số 39-NĐ ngày 14/05/1958 Ban hành bản điều lệ về tàu buôn ra vào các Cảng của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa do Bộ trưởng Bộ Giao thông và Bưu điện ban hành (Tình trạng hiệu lực không xác định)
- Số hiệu văn bản: 39-NĐ
- Loại văn bản: Nghị định
- Cơ quan ban hành: Bộ Giao thông và Bưu điện
- Ngày ban hành: 14-05-1958
- Ngày có hiệu lực: 29-05-1958
- Ngày bị sửa đổi, bổ sung lần 1: 15-09-1958
- Tình trạng hiệu lực: Không xác định
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Tiếng anh