- NGHỊ ĐỊNH QUY ĐỊNH CHẾ ĐỘ LƯƠNG CHO KHU VỰC SẢN XUẤT
- Điều 1. - Để đạt ba mục đích:
Điều này được hướng dẫn bởi Mục I và II Thông tư 197-TTg năm 1958 có hiệu lực từ ngày 02/05/1958
- Điều 2. – Nay đặt hai thang lương sau đây:
- Điều 3. – Các công nhân khác như công nhân chuyên nghiệp các ngành mỏ, địa chất, kiến thiết cơ bản, lái xe vận tải, công nhân các nghề thuộc công nghiệp nhẹ, các nghề thổ mộc, công nhân nông trường, lâm trường quốc doanh, v.v… được sắp xếp vào các thang lương riêng do các Bộ sở quan ấn định, sau khi được sự đồng ý của Bộ Lao động và Ban Lương trung ương thông qua.
- Điều 4. – Nhân viên hành chính, quản lý xí nghiệp Nhà nước được xếp vào những thang lương riêng do các Bộ sở quan ấn định sau khi được Bộ Lao động đồng ý và Ban Lương trung ương thông qua. Việc xây dựng các thang lương riêng cho nhân viên hành chính, quản lý xí nghiệp phải dựa vào thang lương công nhân sản xuất trong ngành và tình hình sắp xếp nhân viên cơ quan hành chính Nhà nước.
- Điều 5. – Lương thấp nhất định là 27.300 đồng một tháng.
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 2 Mục III Thông tư 197-TTg năm 1958 có hiệu lực từ ngày 02/05/1958
- Điều 6. – Căn cứ vào ba yếu tố: tính chất quan trọng của mỗi ngành sản xuất trong nền kinh tế quốc dân; tính chất phức tạp của kỹ thuật; và điều kiện lao động khác nhau trong mỗi ngành sản xuất để phân biệt đãi ngộ giữa các loại xí nghiệp, nay chia các loại xí nghiệp công nghiệp thành ba loại sản nghiệp như sau:
- Điều 7. - Để tiến tới quy định các khu vực lương, căn cứ vào ba yếu tố: điều kiện công tác khó khăn, xa xôi, khí hậu xấu; điều kiện sinh hoạt khó khăn, vật giá đắt đỏ có tính chất thường xuyên; sự cần thiết khuyến khích nhiều người vào làm việc tại các khu vực công nghiệp quan trọng, nay điều chỉnh các loại khu vực và định suất phụ cấp khu vực như sau:
- Điều 8. - Để giảm bớt các thứ phụ cấp có tính chất phụ vào lương và không hợp lý, nay bỏ các khoản phụ cấp thường xuyên về hao mòn sức khỏe mà thực chất là đã được tính vào các mức lương cấp bậc mới.
- Điều 9. – Nay bỏ khoản phụ cấp kỹ thuật hiện hành đã được tính vào các mức lương trong thang lương nhân viên kỹ thuật 14 bậc.
- Điều 10. - Để thống nhất dần chế độ tiền lương, nay bỏ dần chế độ bán cung cấp:
Điều này được hướng dẫn bởi Thông tư liên bộ 16-TTLB năm 1958 có hiệu lực từ ngày 22/06/1958
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 1 Mục III Thông tư 197-TTg năm 1958 có hiệu lực từ ngày 02/05/1958 - Điều 11. – Nay thành lập một quỹ xã hội để đài thọ các khoản trợ cấp có tính chất xã hội như: trợ cấp khi sinh đẻ, trợ cấp cho gia đình đông con , trợ cấp khi ốm đau, khi bị thương tật, khi về hưu hoặc chết.
- Điều 12. - Kể từ ngày thi hành nghị định này, chế độ phụ cấp con hiện hành không áp dụng nữa đối với công nhân, nhân viên kỹ thuật nhân viên hành chính và quản lý xí nghiệp Nhà nước.
Chế độ trợ cấp con tại Điều này được hướng dẫn bởi Thông tư 11-TT-LB năm 1958 có hiệu lực từ ngày 01/03/1958
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 3 Mục III Thông tư 197-TTg năm 1958 có hiệu lực từ ngày 02/05/1958 - Điều 13. – Công nhân sản xuất ở khu vực sản xuất được hưởng lương trả theo lương ngày.
Điều này được hướng dẫn bởi Thông tư 32-LĐ/TL năm 1958 có hiệu lực từ ngày 01/01/1959
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 4 Mục III Thông tư 197-TTg năm 1958 có hiệu lực từ ngày 02/05/1958 - Điều 14 Bộ Lao động sẽ quy định nguyên tắc xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật và ấn định bản tiêu chuẩn kỹ thuật tiêu biểu cho công nhân cơ khí làm căn cứ để xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật công nhân trong các ngành.
- Điều 15. - Nghị định này thi hành kể từ ngày 01 tháng 03 năm 1958 đối với công nhân, nhân viên kỹ thuật và nhân viên hành chính, quản lý (kể cả công nhân, viên chức lưu dụng nguyên lương) hiện công tác ở các xí nghiệp Nhà nước.
Điều này được sửa đổi bởi Điều 1 Nghị định 259-TTg năm 1958 có hiệu lực từ ngày 11/06/1958
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản 5 Mục III Thông tư 197-TTg năm 1958 có hiệu lực từ ngày 02/05/1958 - Điều 16. – Khi thi hành nghi định này, những người mà mức lương mới (gồm lương chính, phụ cấp khu vực và trợ cấp con nếu có) thấp hơn mức lương hiện lĩnh (gồm lương chính, phụ cấp khu vực, phụ cấp con, phụ cấp ăn ở ngoài nếu có) sẽ được hưởng khoản tiền chênh lệch.
- Điều 17. - Bộ Lao động sẽ hướng dẫn việc sắp xếp cho công nhân, nhân viên kỹ thuật và nhân viên hành chính, quản lý các xí nghiệp Nhà nước vào các thang lương quy định trong nghị định này.
- Điều 18. – Nghị định số 650-TTg ngày 30 tháng 12 năm 1955 đặt các thang lương của cán bộ, công nhân và nhân viên, các cơ quan và xí nghiệp Nhà nước nay không áp dụng đối với những người được hưởng chế độ lương mới quy định trong nghị định này.
- Điều 19. – Các ông Bộ trưởng và các Ủy ban hành chính khu, tỉnh và thành phố chịu trách nhiệm thi hành nghị này.
Điều này được hướng dẫn bởi Mục IV và V Thông tư 197-TTg năm 1958 có hiệu lực từ ngày 02/05/1958
Nghị định số 182-TTg ngày 07/04/1958 của Chính phủ Quy định chế độ lương cho khu vực sản xuất (Tình trạng hiệu lực không xác định)
- Số hiệu văn bản: 182-TTg
- Loại văn bản: Nghị định
- Cơ quan ban hành: Thủ tướng Chính phủ
- Ngày ban hành: 07-04-1958
- Ngày có hiệu lực: 22-04-1958
- Ngày bị sửa đổi, bổ sung lần 1: 11-06-1958
- Ngày bị sửa đổi, bổ sung lần 2: 13-06-1958
- Tình trạng hiệu lực: Không xác định
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Tiếng anh