- NGHỊ ĐỊNH QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH SẮC LUẬT SỐ 004-SLT NGÀY 20-07-1957 VỀ BẦU CỬ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN HÀNH CHÍNH CÁC CẤP
- Điều 1 Nghị định này quy định chi tiết thi hành Sắc luật số 004-SLt ngày 20 tháng 07 năm 1957 về bầu cử Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Hành chính các cấp, gồm có các mục:
- Mục I: VỀ ĐIỀU KIỆN BẦU VÀ ỨNG CỬ
- Điều 2 Tuổi bầu cử (18 tuổi) và tuổi ứng cử (21 tuổi) quy định trong điều 2 Sắc luật bầu cử là tính đến năm bầu cử. Thí dụ: năm bầu cử là năm 1957 thì cử tri phải sinh trong năm 1939 hay là sinh trước năm đó, và người ứng cử phải sinh trong năm 1936 hay là sinh trước năm đó.
- Điều 3 Mỗi cử tri chỉ được ghi tên vào danh sách cử tri ở một nơi.
- Mục II: VỀ ĐƠN VỊ BẦU CỬ VÀ KHU VỰC BỎ PHIẾU
- Điều 4 Ủy ban Hành chính cấp nào sẽ quy định tên hay là số hiệu cho các đơn vị bầu cử Hội đồng Nhân dân cấp ấy.
Điều này được hướng dẫn bởi Mục III Thông tư 76-NV/DC năm 1958 có hiệu lực từ ngày 14/12/1958
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản I, Khoản II Mục B Thông tư 30-TC/TT năm 1957 có hiệu lực từ ngày 19/10/1957 - Điều 5 Để tiện cho việc bỏ phiếu và kiểm phiếu, các thị xã (không có khu phố), thị trấn, khu phố và xã sẽ chia thành những khu vực bỏ phiếu như sau:
Điều này được hướng dẫn bởi Mục IV Thông tư 76-NV/DC năm 1958 có hiệu lực từ ngày 14/12/1958
Điều này được hướng dẫn bởi Khoản III Mục B Thông tư 30-TC/TT năm 1957 có hiệu lực từ ngày 19/10/1957 - Điều 6 Các bệnh viện, nhà hộ sinh, an dưỡng đường, nhà nuôi người tàn tật có từ 50 cử tri trở lên (bệnh nhân, người đẻ, người an dưỡng, người tàn tật) thuộc đơn vị bầu cử nào có thể tổ chức thành khu vực bỏ phiếu riêng trong đơn vị bầu cử ấy.
- Điều 7 Các khu vực bỏ phiếu phải được Ủy ban Hành chính thị xã (không chia khu phố), thị trấn, khu phố và xã công bố, chậm nhất là 40 ngày trước ngày bầu cử, bằng báo chí, phát thanh, yết thị, hoặc bằng mọi phương tiện thông thường của địa phương.
- Mục III: VỀ DANH SÁCH CỬ TRI VÀ ỨNG CỬ
- Điều 8 Danh sách cử tri lập theo mẫu kèm sau (mẫu số 1) có ghi: Họ tên, tuổi, là nam hay nữ, chỗ ở, dân tộc.
Điều này được hướng dẫn bởi Mục I Thông tư 76-NV/DC năm 1958 có hiệu lực từ ngày 14/12/1958
Điều này được hướng dẫn bởi Mục A Thông tư 30-TC/TT năm 1957 có hiệu lực từ ngày 19/10/1957 - Điều 9 Khi đã niêm yết danh sách cử tri, các cấp lập danh sách cử tri phải loan báo ngay việc niêm yết ấy bằng báo chí, phát thanh, hoặc bằng mọi phương tiện thông thường của địa phương.
- Điều 10 Mọi sự khiếu nại về danh sách cử tri đều không phải chịu một khoản lệ phí nào.
- Điều 11 Tòa án nhân dân huyện, châu hay là thành phố, nhận được giấy khiếu nại phải xét xử xong trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày nhận được giấy. Quyết định của tòa án là quyết định cuối cùng.
- Điều 12 Chậm nhất là 03 ngày trước ngày bầu cử, các cơ quan lập danh sách cử tri phải gửi cho tổ bầu cử ở khu vực bỏ phiếu bản danh sách cử tri và mọi sự sửa đổi nếu có trong bản danh sách.
- Điều 13 Danh sách ứng cử lập theo đơn vị bầu cử và theo mẫu kèm sau (mẫu số 2) có ghi: số thứ tự, họ tên, tuổi, là nam hay nữ, nghề nghiệp, chỗ ở, dân tộc.
- Điều 14 Ở những địa phương không có cấp bộ của Mặt trận Tổ quốc thì các đoàn thể trong Mặt trận cũng có thể giới thiệu người ra ứng cử.
- Điều 15 Chậm nhất là 10 ngày trước ngày bầu cử, Hội đồng bầu cử phải gửi cho Ban bầu cử bản danh sách những người ứng cử và mọi sự sửa đổi nếu có trong bản danh sách này.
- Mục IV: VỀ ĐẦU PHIẾU
- Điều 16 Trước ngày bầu cử 10 ngày, Tổ bầu cử phải thường xuyên báo cho cử tri biết ngày bầu cử và địa điểm phòng bỏ phiếu bằng yết thị, phát thanh hoặc bằng mọi phương tiện thông thường của địa phương.
- Điều 17 Phiếu bầu cử phải có đóng dấu của cơ quan hay đơn vị lập danh sách cử tri. Dấu đóng ở mặt sau lá phiếu.
- Điều 18 Cơ quan lập thẻ cử tri là cơ quan lập danh sách cử tri. Thẻ cử tri do tổ bầu cử phân phối tới tay cử tri, chậm nhất là hai ngày trước ngày bầu cử.
- Điều 19 Phòng bỏ phiếu phải đặt ở một nơi thuận tiện cho nhân dân. Cần bố trí lối vào chỗ đặt hòm phiếu và lối ra khác nhau.
- Điều 20 Trong ngày bầu cử, tổ bầu cử chịu trách nhiệm về những biện pháp cần thi hành để giữ gìn trật tự ở trong và ở chung quanh phòng bỏ phiếu.
- Điều 21 Hòm phiếu phải kín, chỉ để một khe hở vừa đủ để bỏ lá phiếu và phải có khóa. Thìa khóa do tổ trưởng tổ bầu cử giữ.
- Điều 22 Khi đến giờ bỏ phiếu, tổ bầu cử (có đủ mặt nhân viên) phải kiểm soát lại hòm phiếu, mở hòm phiếu ra để các cử tri có mặt chứng kiến là trong hòm phiếu không có gì, sau đó khóa và niêm phong hòm phiếu lại, rồi mời các cử tri vào bỏ phiếu.
- Điều 23 Khi vào phòng bỏ phiếu, cử tri phải xuất trình thẻ cử tri cho nhân viên tổ bầu cử. Nhân viên này kiểm soát và sau khi đã ghi chú vào danh sách cử tri sẽ trao cho cử tri một phiếu bầu có đóng dấu của cơ quan lập danh sách cử tri.
- Điều 24 Mọi người đều có quyền khiếu nại về căn cước của tất cả cử tri đến bỏ phiếu. Tổ trưởng tổ bầu cử sẽ xét lại căn cước của người bỏ phiếu: nếu xét thấy lời khiếu nại là đúng thì sẽ không cho bỏ phiếu và lập biên bản về việc đó.
- Điều 25 Muốn bầu cho người ứng cử nào thì cử tri biên họ tên người ấy vào phiếu, sau đó gập phiếu lại để mặt lá phiếu có đóng dấu ra ngoài, rồi bỏ vào hòm phiếu.
- Điều 26 Nếu có nhiều người ứng cử họ tên và chữ đệm trùng nhau thì khi viết phiếu bầu phải viết thêm tuổi hoặc địa chỉ của người ứng cử.
- Điều 27 Khi đã hết giờ bỏ phiếu, nhưng còn một số cử tri có mặt ở phòng bỏ phiếu chưa kịp bỏ phiếu thì cần để số cử tri này bỏ phiếu cho xong. Sau đó, tổ trưởng tổ bầu cử mới tuyên bố cuộc bỏ phiếu kết thúc và bắt đầu kiểm phiếu.
- Mục V: VỀ KIỂM PHIẾU, SƠ KẾT, TỔNG KẾT
- Điều 28 Những phiếu bầu có biên tên một hay nhiều người không ứng cử vẫn được coi là hợp lệ, nhưng tên những người không ứng cử này thì không kể.
- Điều 29 Trong biên bản kiểm phiếu của tổ bầu cử làm theo mẫu kèm sau (mẫu số 3), phải ghi:
- Điều 30 Biên bản kiểm phiếu của tổ bầu cử lập thành ba bản có chữ ký của toàn tổ hay là ít nhất là tổ trưởng và thư ký và của hai cử tri được mời chứng kiến cuộc kiểm phiếu: một bản gửi đến Ban bầu cử, một bản đính vào hồ sơ bầu cử do tổ bầu cử giữ, một bản niêm yết tại phòng bỏ phiếu.
- Điều 31 Người ứng cử (hoặc người được ứng cử viên chính thức ủy nhiệm) và các phóng viên báo chí, điện ảnh được quyền tham quan lúc kiểm phiếu.
- Điều 32 Sau khi đã tập trung kết quả bầu cử của tất cả các khu vực bỏ phiếu, Ban bầu cử sẽ làm biên bản sơ kết cuộc bầu cử của đơn vị theo mẫu kèm sau (mẫu số 4).
- Điều 33 Biên bản sơ kết bầu cử của mỗi đơn vị bầu cử gửi đến Hội đồng bầu cử, kèm theo các giấy khiếu nại và các biên bản của các tổ bầu cử, tất cả xếp thành một hồ sơ niêm phong lại, có chữ ký của toàn ban bầu cử hay là ít nhất của trưởng ban và thư ký.
- Điều 34 Trường hợp đơn vị bầu cử chỉ có một khu vực bỏ phiếu thì ban bầu cử kiêm luôn nhiệm vụ của tổ bầu cử, và chỉ lập một biên bản sơ kết bầu cử theo mẫu số 4.
- Điều 35 Hội đồng bầu cử của mỗi cấp lập biên bản tổng kết chung cho toàn cấp mình theo mẫu kèm sau (mẫu số 5).
- Điều 36 Biên bản tổng kết bầu cử phải gửi lên cấp có thẩm quyền xét duyệt nói ở điều 51 Sắc luật số 004-SLt ngày 20 tháng 07 năm 1957.
- Điều 37 Việc xét duyệt nói ở điều 51 Sắc luật số 004-SLt ngày 20-07-1957 nhằm xác nhận cuộc bầu cử tiến hành hợp lệ hay không.
- Điều 38 Nếu có cuộc bầu lại hay bầu thêm, danh sách cử tri dùng trong cuộc bầu lần thứ nhất, cũng vẫn dùng trong cuộc bầu lần thứ hai.
- Điều 39 Khi cấp có thẩm quyền đã chính thức công nhận kết quả cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân thì Hội đồng bầu cử, ban bầu cử và tổ bầu cử đều giải tán.
- Điều 40 Trước khi giải tán, Hội đồng bầu cử phải gửi tất cả hồ sơ của cuộc bầu cử đến Ủy ban Hành chính sở quan lưu trữ.
- Mục VI: VỀ VIỆC IN CÁC GIẤY TỜ CẦN THIẾT CHO CUỘC BẦU CỬ
Mục này được hướng dẫn bởi Mục VI Thông tư 76-NV/DC năm 1958 có hiệu lực từ ngày 14/12/1958
Mục này được hướng dẫn bởi Mục D Thông tư 30-TC/TT năm 1957 có hiệu lực từ ngày 19/10/1957 - Điều 41 Các Ủy ban Hành chính Khu Tự trị Thái – Mèo, Khu Hồng Quảng, thành phố và tỉnh phụ trách in các giấy tờ cần thiết cho toàn địa phương mình như: phiếu bầu, thẻ cử tri, danh sách cử tri, danh sách những người ứng cử, biên bản các loại, theo các mẫu thống nhất đã định.
- Mục VII: VỀ BẦU CỬ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN Ở CÁC KHU TỰ TRỊ VÀ MIỀN NÚI
- Điều 42 Mỗi xã, thị trấn, thị xã là một khu vực bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp châu, tỉnh, khu. Phòng bỏ phiếu đặt tại trụ sở Ủy ban Hành chính xã, thị trấn, thị xã.
- Điều 43 Các việc lập danh sách cử tri, ứng cử, tổ chức bầu cử đều theo đúng các điều khoản đã ấn định trong các tiết 4, 5, 6, 7 thuộc chương I của Sắc luật về bầu cử Hội đồng nhân dân và Ủy ban Hành chính các cấp.
- Điều 44 Bộ Nội vụ sẽ quyết định những tỉnh nào phải áp dụng những thể lệ bầu cử, ứng cử quy định cho miền núi theo đề nghị của Ủy ban Hành chính khu và tỉnh trực thuộc trung ương. Ủy ban Hành chính tỉnh sẽ quyết định những xã nào phải áp dụng những thể lệ bầu cử, ứng cử quy định cho miền núi theo đề nghị của Ủy ban Hành chính huyện.
- Mục VIII: VỀ BẦU CỬ ỦY BAN HÀNH CHÍNH CÁC CẤP
- Ở những cấp có Hội đồng nhân dân:
- Điều 45 Ở những cấp có Hội đồng nhân dân, chậm nhất là mười ngày sau khi tiếp được quyết định của cấp có thẩm quyền chính thức công nhận kết quả của cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân thì Ủy ban Hành chính sẽ gửi giấy triệu tập Hội đồng nhân dân để bầu Ủy ban Hành chính mới.
- Điều 46 Trong cuộc họp để bầu Ủy ban Hành chính, thư ký cuộc họp là một ủy viên Ủy ban Hành chính.
- Điều 47 Sau khi cuộc họp Hội đồng nhân dân đã khai mạc và cử Chủ tịch đoàn, ai ra ứng cử vào Ủy ban Hành chính sẽ báo cho Chủ tịch đoàn rõ. Danh sách những người ứng cử sẽ được công bố và niêm yết trong phòng họp.
- Điều 48 Khi cuộc bỏ phiếu và kiểm phiếu xong, Chủ tịch đoàn phải lập biên bản ngay theo mẫu kèm sau (mẫu số 6). Biên bản phải có chữ ký của các hội viên có chân trong Chủ tịch đoàn và của ủy viên làm thư ký cuộc họp và phải niêm yết ngay tại trụ sở Ủy ban Hành chính. Nếu trong cuộc bầu lần thứ nhất không ai đủ phiếu để trúng cử hoặc số người trúng cử chưa đủ số định bầu thì sẽ tổ chức bỏ phiếu lần thứ hai ngay để bầu lại hay là bầu thêm.
- Ở những cấp không có Hội đồng nhân dân:
- Điều 49 Ở những cấp không có Hội đồng nhân dân, chậm nhất là 10 ngày sau khi các Hội đồng nhân dân cấp dưới một cấp đã được chính thức công nhận thì Ủy ban Hành chính khu hay là huyện định và công bố ngày bầu cử Ủy ban Hành chính mới, chậm nhất là 30 ngày trước ngày bầu cử.
- Điều 50 Ai ứng cử vào Ủy ban Hành chính cấp nào phải gửi đơn đến Ủy ban Hành chính cấp ấy, chậm nhất là 15 ngày trước ngày bầu cử.
- Điều 51 Khi hết hạn nộp đơn ứng cử, Ủy ban Hành chính khu hay là huyện sẽ lập danh sách ứng cử và niêm yết tại trụ sở Ủy ban Hành chính khu hay là huyện và tại trụ sở các Ủy ban Hành chính dưới một cấp, chậm nhất là 10 ngày trước ngày bầu cử.
- Điều 52 Chậm nhất là 15 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban Hành chính khu hay là huyện sẽ thành lập một Hội đồng bầu cử gồm từ 3 đến 5 đại biểu các giới và các đoàn thể nhân dân trong địa phương, tất cả đều phải là người không ra ứng cử và phải biết đọc biết viết.
Điều này được hướng dẫn bởi Mục V Thông tư 76-NV/DC năm 1958 có hiệu lực từ ngày 14/12/1958
Điều này được hướng dẫn bởi Mục C Thông tư 30-TC/TT năm 1957 có hiệu lực từ ngày 19/10/1957 - Điều 53 Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng bầu cử như sau:
- Điều 54 Ai khiếu nại về ứng cử đều phải gửi giấy đến Hội đồng bầu cử, chậm nhất là bảy ngày trước ngày bầu cử. Hội đồng bầu cử phải xét và quyết định trong thời hạn ba ngày. Quyết định của Hội đồng bầu cử là quyết định cuối cùng.
- Điều 55 Trong các cuộc bầu cử Ủy ban Hành chính ở những cấp không có Hội đồng nhân dân thì mỗi đơn vị hành chính dưới một cấp là một khu vực bỏ phiếu.
- Điều 56 Giấy triệu tập Hội đồng nhân dân để bầu Ủy ban Hành chính (ở những cấp không có Hội đồng nhân dân) do Ủy ban Hành chính cấp dưới một cấp gửi đến hội viên Hội đồng nhân dân cấp mình 5 ngày trước ngày bầu cử.
- Điều 57 Khi cuộc bỏ phiếu và kiểm phiếu xong. Chủ tịch đoàn phải lập biên bản ngay, theo mẫu kèm sau (mẫu số 7) để gửi đến Hội đồng bầu cử, biên bản phải có chữ ký của các hội viên có chân trong Chủ tịch đoàn và của ủy viên làm thư ký cuộc họp.
- Điều 58 Sau khi nhận được các biên bản kiểm phiếu của các khu vực bỏ phiếu, Hội đồng bầu cử làm biên bản tổng kết cuộc bầu cử theo mẫu kèm sau (mẫu số 8).
- Điều 59 Nếu có cuộc bầu lại hoặc bầu thêm thì Ủy ban Hành chính, nói ở điều 52, định ngày bầu cử lần thứ hai và báo cho các Ủy ban Hành chính dưới một cấp biết.
- Mục IX: ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
- Điều 60 Ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm thi hành nghị định này.
- DANH SÁCH CỬ TRI
- DANH SÁCH ỨNG CỬ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
- BẨU CỬ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN BIÊN BẢN KIỂM PHIẾU
- BẨU CỬ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN … BIÊN BẢN SƠ KẾT BẦU CỬ
- BẨU CỬ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN … BIÊN BẢN SƠ KẾT BẦU CỬ
- BẨU CỬ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN … BIÊN BẢN TỔNG KẾT BẦU CỬ
- BIÊN BẢN BẦU CỬ ỦY BAN HÀNH CHÍNH ….
- BIÊN BẢN KIỂM PHIẾU tại (Xã ……………… (hay Tỉnh...............................
- BẦU CỬ ỦY BAN HÀNH CHÍNH … BIÊN BẢN TỔNG KẾT BẦU CỬ
Nghị định số 432-TTg ngày 25/09/1957 Thi hành Sắc luật 004-SLt về bầu cử Hội đồng nhân dân và Ủy ban Hành chính các cấp do Thủ Tướng ban hành (Tình trạng hiệu lực không xác định)
- Số hiệu văn bản: 432-TTg
- Loại văn bản: Nghị định
- Cơ quan ban hành: Phủ Thủ tướng
- Ngày ban hành: 25-09-1957
- Ngày có hiệu lực: 10-10-1957
- Tình trạng hiệu lực: Không xác định
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Tiếng anh