- NGHỊ ĐỊNH BAN HÀNH BẢN THỂ LỆ VÀ BIỆN PHÁP CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI CÁC XÍ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP QUỐC DOANH
- Điều 1: Nay ban hành bản thể lệ và biện pháp cho vay ngắn hạn đối với các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh của Ngân hàng quốc gia Việt Nam kèm theo Nghị định này.
- Điều 2: Thể lệ và biện pháp này được áp dụng từ ngày ban hành.
- Điều 3: Các ông Chánh Văn phòng, Giám đốc Vụ, Sở ở Ngân hàng Trung ương, các ông Giám đốc và Trưởng Chi nhánh Ngân hàng toàn quốc chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
- THỂ LỆ VÀ BIỆN PHÁP CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI CÁC XÍ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP QUỐC DOANH
- Chương 1: ĐIỀU KHOẢN CHUNG
- MỤC A. MỤC ĐÍCH CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI CÁC XÍ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP QUỐC DOANH
- Điều 1: Ngân hàng quốc gia Việt Nam cho các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh vay ngắn hạn nhằm mục đích giải quyết những nhu cầu vốn luân chuyển (lưu động) cho các xí nghiệp để giúp các xí nghiệp thực hiện kế hoạch Nhà nước về mọi mặt. Đồng thời, thông qua công tác cho vay ngắn hạn, Ngân hàng quốc gia Việt Nam làm nhiệm vụ kiểm soát bằng đồng tiền hoạt động kinh tế của các xí nghiệp, giúp đỡ và đôn đốc việc củng cố và mở rộng chế độ hạch toán kinh tế, sử dụng hợp lý và triệt để tiết kiệm các phương tiện cơ bản (cố định) và luân chuyển (lưu động), hạ giá thành sản phẩm và tích luỹ vốn cho Nhà nước.
- MỤC B. NGUYÊN TẮC CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI CÁC XÍ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP QUỐC DOANH:
- Điều 2: Ngân hàng quốc gia Việt Nam cho các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh vay ngắn hạn theo các nguyên tắc sau đây:
- Điều 3: Các xí nghiệp được vay tiền của Ngân hàng quốc gia là những xí nghiệp đã thi hành chế độ hạch toán kinh tế, nghĩa là các xí nghiệp phải có:
- Chương 2: CÁC LOẠI CHO VAY
- Điều 4: Ngân hàng cho các xí nghiệp Công nghiệp quốc doanh vay phần vốn luân chuyển trên mức tiêu chuẩn nhằm giúp các xí nghiệp giải quyết những nhu cầu vốn có tính chất thời vụ hoặc không thời vụ xẩy ra trong quá trình sản xuất và những nhu cầu vốn trong quá trình lưu thông.
- Điều 5: Căn cứ vào tình hình hiện nay của các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh Ngân hàng quốc gia Việt Nam quy định bốn loại cho vay dưới đây:
- MỤC A. CHO VAY DỰ TRỮ VẬT TƯ TRÊN MỨC TIÊU CHUẨN VÀ CÁC CHI PHÍ SẢN XUẤT THEO MÙA:
Mục này được bổ sung bởi Thông tư 13-TD/CN năm 1961 có hiệu lực từ ngày 12/01/1962
- Điều 6: Ngân hàng cho các xí nghiệp công nghiệp vay để dự trữ vật tư theo mùa trên mức tiêu chuẩn trong phạm vi kế hoạch đã định trước.
- Điều 7: Ngân hàng cho các xí nghiệp công nghiệp vay về các chi phí sản xuất trực tiếp, gián tiếp và chi phí sửa chữa thường xuyên có tính chất thời vụ, trên mức tiêu chuẩn, trong phạm vi kế hoạch định trước.
- Điều 8: Các xí nghiệp muốn vay tiền của Ngân hàng về dự trữ vật tư theo mùa, trên mức tiêu chuẩn, trong phạm vi kế hoạch đã định trước, phải có các điều kiện sau đây:
- Điều 9: Trường hợp xí nghiệp cần tiền trước để mua vật tư thì phải xuất trình hợp đồng và giấy đòi nợ của người bán để làm chứng từ. Ngân hàng sẽ căn cứ vào các giấy tờ đó để cho vay và sẽ kiểm tra tồn kho sau.
- Điều 10: Khi yêu cầu vay tiền, xí nghiệp phải làm đầy đủ các giấy tờ sau đây và nộp cho Ngân hàng ít nhất trước năm ngày:
- Điều 11: Xí nghiệp phải cung cấp cho Ngân hàng số liệu riêng biệt theo từng đối tượng xin vay (từng mặt hàng), gồm có:
- Điều 12: Để tính số tiền xin vay, các xí nghiệp phải căn cứ vào số dư vật tư dự trữ đầu quý kế hoạch cộng số vật tư sẽ nhập và trừ số vật tư sẽ xuất theo kế hoạch của quý kế hoạch mà tính ra số dư vật tư cuối quý, rồi trừ đi số vật tư của mức tiêu chuẩn, còn lại là số vật tư cần vay vốn của Ngân hàng trên mức tiêu chuẩn (theo mẫu phụ số 5).
- Điều 13: Ngân hàng sẽ xét và kiểm tra lại các vật tư do xí nghiệp xuất trình làm đảm bảo. Ngân hàng sẽ loại ra khỏi đảm bảo các vật tư sau đây:
- Điều 14: Cách tính giá trị vật tư làm đảm bảo nợ vay của Ngân hàng như sau:
- Điều 15: Ngân hàng tính số tiền cho xí nghiệp vay như sau:
- Điều 16: Khi đã ấn định số tiền cho vay. Ngân hàng sẽ quyết định việc sử dụng số tiền cho vay:
- Điều 17: Khi ấn định thời gian cho vay về dự trữ vật tư trên mức tiêu chuẩn, Ngân hàng quốc gia căn cứ vào kế hoạch sử dụng các dự trữ vật tư được vay trong thời gian kế hoạch. Số dự trữ vật tư giảm bớt bao nhiêu thì xí nghiệp phải trả nợ Ngân hàng bấy nhiêu, nhưng thời hạn tối đa không được quá 12 tháng.
- Điều 18: Khi ấn định thời gian cho vay về chi phí sản xuất theo mùa, Ngân hàng quốc gia sẽ căn cứ vào thời kỳ xí nghiệp bắc đầu sản xuất, và kế hoạch sản xuất và tiêu thụ của xí nghiệp để ấn định kỳ hạn thu nợ dần nhưng thời hạn tối đa không được quá 12 tháng.
- MỤC B. CHO VAY ĐỂ THANH TOÁN.
- Điều 19: Trong trường hợp xí nghiệp bán hàng nhưng chưa thu được tiền hoặc mua hàng phải trả tiền trước, vốn của xí nghiệp bị thiếu hụt, Ngân hàng có thể căn cứ vào các chứng từ có liên quan đến các việc mua bán đó để cho xí nghiệp vay bù đắp vào vốn luân chuyển.
- Điều 20: Ngân hàng quốc gia sẽ tùy từng trường hợp cho các xí nghiệp vay để thanh toán theo các hình thức dưới đây:
- MỤC C. CHO VAY VỀ NHU CẦU TẠM THỜI
- Điều 21: Ngân hàng cho các xí nghiệp vay để giải quyết những nhu cầu tạm thời về dự trữ vật tư ngoài kế hoạch, trên mức tiêu chuẩn, tạm thời xuất hiện trong quá trình thực hiện kế hoạch do các nguyên nhân khách quan, không phải do bản thân công tác xấu của xí nghiệp gây ra.
- Điều 22: Các đối tượng cho vay về nhu cầu tạm thời là:
- Điều 23: Ngân hàng cho các xí nghiệp vay để giải quyết những nhu cầu tạm thời về dự trữ nguyên, nhiên, vật liệu sản xuất ngoài kế hoạch trong những trường hợp dưới đây:
- Điều 24: Thời hạn cho vay về nhu cầu tạm thời dự trự nguyên,nhiên, vật liệu sản xuất và bao bì ấn định như sau:
- Điều 25: Ngân hàng cho vay về nhu cầu tạm thời dự trữ thành phẩm ngoài kế hoạch trong những trường hợp sau đây:
- Điều 26: Thời hạn tối đa cho vay về nhu cầu tạm thời dự trữ thành phẩm ngoài kế hoạch là 45 ngày.
- Điều 27: Ngân hàng cho vay về nhu cầu tạm thời dự trữ sản xuất chưa xong và vật phẩm chế tạo nửa chừng ngoài kế hoạch trong những trường hợp sau đây:
- Điều 28: Trưởng Chi nhánh Ngân hàng tỉnh có quyết định cho vay các nhu cầu tạm thời về số dư sản xuất chưa xong và vật phẩm chế tạo nửa chừng ngoài kế hoạch do xí nghiệp thực hiện vượt mức kế hoạch tạo ra. Còn các trường hợp khác thì do Ban Tổng giám đốc Ngân hàng quốc gia Việt Nam quyết định.
- Điều 29: Thời hạn tối đa về cho vay nhu cầu tạm thời các số dư sản xuất chưa xong và vật phẩm chế tạo nửa chừng ngoài kế hoạch do việc thực hiện vượt mức gây ra là 30 ngày, cho vay trên 30 ngày phải được Ban Tổng giám đốc Ngân hàng quốc gia Việt Nam cho phép.
- Điều 30: Muốn vay về nhu cầu tạm thời các xí nghiệp phải trình bày rõ nguyên nhân, nộp cho Ngân hàng những giấy tờ chứng thực có liên quan như chỉ thị của cấp trên thay đổi chương trình, kế hoạch mở rộng sản xuất v.v... Làm bảng kê các dự trữ vật tư (theo mẫu số 3) kèm theo đơn xin vay (theo mẫu số 1) đồng thời phải có kế hoạch trả nợ cụ thể.
- Điều 31: Các Chi nhánh Ngân hàng phải kiểm tra chu đáo tính chất nhu cầu tạm thời trước khi cho vay. Mức cho vay về nhu cầu tạm thời không thể vượt quá mức quy định cho từng chi nhánh và quá số vốn dự trữ về cho vay nhu cầu tạm thời trong kế hoạch tín dụng tổng hợp của quý kế hoạch đã được Chính phủ duyệt.
- MỤC D. CHO VAY SỬA CHỮA LỚN
- Điều 32: Ngân hàng quốc gia cho các xí nghiệp vay về chi phí sửa chữa lớn trong những trường hợp số tiền đã khấu hao về tài sản cố định dành cho sửa chữa lớn đến ngày xin vay không đủ để làm việc ấy.
- Điều 33: Khi làm đơn xin vay về sửa chữa lớn các xí nghiệp phải nộp kèm theo kế hoạch khấu hao về sửa chữa lớn, cả năm, khai rõ những đối tượng phải sửa chữa lớn, thời gian sửa chữa xong, số tiền cần thiết, để Ngân hàng có cơ sở tính toán định mức cho vay (theo mẫu chính số 4) và mẫu phụ số 6).
- Điều 34: Thời gian cho vay sửa chữa lớn dài nhất không được quá niên độ. Ngân hàng căn cứ vào kế hoạch khấu hao nộp khấu hao sửa chửa lớn của xí nghiệp để ấn định số tiền phải trả từng tháng.
- Chương 3: VIỆC LẬP VÀ XÉT DUYỆT KẾ HOẠCH VAY VỐN
- Điều 35: Xí nghiệp làm kế hoạch vay vốn theo từng loại vay đã quy định ở điều 5. Riêng về loại cho vay để thanh toán và cho vay về nhu cầu tạm thời, xí nghiệp không phải làm kế hoạch. Ngân hàng sẽ căn cứ vào khoản vốn dự trù trong kế hoạch tín dụng tổng hợp để phối hợp cho từng chi nhánh và các chi nhánh trong phạm vi mức quy định sẽ cho xí nghiệp vay mỗi khi cần tới.
- Điều 36: Xí nghiệp phải gửi kế hoạch vay vốn từng quý có chia ra từng tháng đến chi nhánh Ngân hàng giữ tài khoản tiền gửi thanh toán của mình và cho Cục, Nha chủ quản 20 ngày trước khi bắt đầu quý cùng với kế hoạch sản xuất – kỹ thuật – tài vụ, cụ thể gồm có:
- Điều 37: Căn cứ vào kế hoạch sản xuất, kế hoạch cung cấp vật tư – kỹ thuật sản xuất, và các kế hoạch khác của toàn ngành kết hợp với kế hoạch xin vay vốn của các xí nghiệp, các Cục, Nha, Viện v.v... sẽ nghiên cứu và tổng hợp kế hoạch vay vốn của các xí nghiệp sở thuộc, Bộ sẽ nghiên cứu và tổng hợp kế hoạch của các Cục, Nha, Viện ... thuộc Bộ mình.
- Điều 38: Sau khi được Chính phủ duyệt y kế hoạch cho vay, Ngân hàng Trung ương sẽ báo cho các Bộ, Cục, Nha, Viện biết kế hoạch cho vay đó. Các Bộ, Cục, Nha, Viện, v.v... sẽ căn cứ vào kế hoạch đó mà phân phối số vốn vay cho từng xí nghiệp và báo cho Ngân hàng Trung ương biết. Ngân hàng Trung ương sẽ thông tri cho các Chi nhánh biết mức quy định cho vay đối với từng xí nghiệp trong 15 ngày đầu quý.
- Chương 4: KIỂM TRA SỬ DỤNG VỐN VAY CỦA NGÂN HÀNG
- Điều 39: Để Ngân hàng có thể phân tích Hội đồng kinh tế của các xí nghiệp và kiểm tra việc sử dụng vốn cho vay các Bộ, Cục, Nha, Viện và các xí nghiệp hàng tháng, hàng quý và cuối năm phải gửi đến Ngân hàng (các Bộ, Cục, Nha, Viện... gửi cho Ngân hàng Trung ương, các xí nghiệp gửi cho chi nhánh Ngân hàng giữ tài khoản thanh toán và cho vay) các tài liệu sau đây:
- Điều 40: Khi kiểm tra các xí nghiệp sử dụng vốn vay, Ngân hàng kiểm tra chủ yếu số vật tư làm đảm bảo cho khoản vay. Việc kiểm tra tiến hành trước khi cho vay, và thường xuyên trong suốt thời gian vay tiền cho đến khi xí nghiệp trả xong nợ.
- Điều 41: Việc kiểm tra đảm bảo số tiền vay tiến hành:
- Điều 42: Khi căn cứ vào các tài liệu trên để kiểm tra bảo đảm, Ngân hàng thấy dự trữ vật tư thực có trên mức tiêu chuẩn ít hơn số tiền đã cho xí nghiệp vay về dự trữ vật tư trên mức tiêu chuẩn và về nhu cầu tạm thời thì Ngân hàng phải thu hồi ngày số tiền cho vay không có vật tư đảm bảo bằng cách trích tài khoản “tiền gửi thanh toán” của xí nghiệp. Nếu tài khoản tiền gửi thanh toán không có tiền thì Ngân hàng sẽ chuyển số tiền vay không có vật tư bảo đảm sang tài khoản nợ quá hạn và yêu cần xí nghiệp phải có kế hoạch trả nợ nhanh chóng.
- Chương 5: CÁC HÌNH THỨC KỶ LUẬT
- Điều 43: Các xí nghiệp vay tiền của Ngân hàng quốc gia Việt Nam phải chấp hành đúng kỷ luật trả nợ và báo cáo đã quy định.
- Chương 6: NGUYÊN TẮC PHỤ
- Điều 44: Thể lệ và biện pháp cho vay ngắn hạn đối với các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh nay đã được Thủ tướng Chính phủ đồng ý và ông Tổng Giám đốc Ngân hàng quốc gia Việt Nam ban hành theo Nghị định số 448-VP/NgĐ ngày 23 tháng 08 năm 1957.
Nghị định số 448-VP/NgĐ ngày 23/08/1957 Về bản thể lệ và biện pháp cho vay ngắn hạn đối với các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh do Tổng giám đồc Ngân hàng Quốc gia Việt Nam ban hành (Tình trạng hiệu lực không xác định)
- Số hiệu văn bản: 448-VP/NgĐ
- Loại văn bản: Nghị định
- Cơ quan ban hành: Ngân hàng quốc gia
- Ngày ban hành: 23-08-1957
- Ngày có hiệu lực: 23-08-1957
- Tình trạng hiệu lực: Không xác định
- Ngôn ngữ:
- Định dạng văn bản hiện có:
MỤC LỤC
Tiếng anh